Vào lộng ra khơi - Bút ký của LÊ ĐÌNH CÁNH

Sông Ruột Lợn không có tên trên bản đồ Tổ quốc, vậy mà từ xa xưa đã lặng lẽ chảy trong câu hát Đúm, không chỉ riêng Lập Lễ, mà còn ở Phả Lễ, Phục Lễ. Ba vùng Lễ này có lệ hát dân ca kỳ lạ.

Minh họa: VIỆT ANH
Minh họa: VIỆT ANH

Từng đôi trai gái chưa vợ chưa chồng đối đáp cùng nhau. Tay trong tay. Vai sát vai. Có thể thêm động tác khi đứng kề, ngồi kề bên nhau.

Từ bạn hát đến bạn tình. Qua lễ ăn hỏi, dẫu quen hơi bén tiếng, chàng trai vẫn chưa hề nhìn thấy, chưa hề biết gương mặt cô gái ra sao. Đã xảy ra nhiều trường hợp thú vị. Yêu cô em, sau lễ cưới, khi đã có con, chàng trai mới biết mình cưới nhầm phải cô chị. Biết vậy, gia đình vẫn hạnh phúc, khi hai người đã nặng tình nặng nghĩa vợ chồng. Đến lúc này, ông bố vợ cười xòa, đền cho chàng rể một thuyền gỗ kèm theo đồ nghề đi biển. Ngoài việc cày cấy, còn vào lộng ra khơi, thêm nguồn thu nhập nuôi vợ nuôi con. Nhiều trường hợp tương tự truyền đời xảy ra. Không thành văn bản. Đã thành lệ làng. Từ đấy về sau, trước kia là thuyền gỗ, bây giờ là tàu gỗ, ngày càng thêm tấp nập đông vui. Nhiều trai làng đã thành thợ đóng thuyền, đóng tàu tài hoa. Nhiều lực điền trở thành kình ngư biển cả.

Cho đến bây giờ, cảng cá Mắt Rồng vẫn chưa có tên trên bản đồ giao thông thành phố Hải Phòng. Ấy thế mà nơi đây ngày đêm vẫn âm thầm đưa đón hàng chục, hàng trăm tàu gỗ của Lập Lễ, Phả Lễ, Phục Lễ đi đến nơi về đến chốn. Vẫn là tọa độ giao lưu của vùng quê các cô gái cứ ra khỏi nhà là khăn đen bịt mặt.

Ánh mắt thay nụ cười, tạo nên vẻ đẹp bí ẩn khôn lường. Là bùa mê chòng chành trái tim các chàng trai không chỉ nơi chớp bể mà còn ở những nơi mưa nguồn.

Cảng Mắt Rồng tựa như khúc sông phình rộng ra giữa đôi bờ đồng ruộng Thủy Nguyên gần gũi phì nhiêu. Giữa ba bề hương cau làng quê dân dã. Ngày nước rặc, những con còng gió dạn người thong thả bò ngang trên bùn nước lợ. Buổi nước ròng, sóng gió mênh mang.

Các loại tàu thả neo từ mép nước xa xa, dập dềnh chờ đến lượt vào cảng. Triều cường hôm nay thì khác. Triều cường buổi chiều tà cuối cùng của mùa thu. Cũng là chiều tà cuối tháng âm lịch. Cảng Mắt Rồng vắng bóng tàu cá. Không có tàu đi.

Không thấy tàu về. Lúc này, tàu cá đang vùng vẫy ngoài khơi. Không phải là đánh bắt xa bờ.

Không hiểu vì sao, những năm gần đây, tàu đánh bắt xa bờ thường cập bến trắng tay. Hóa giải hiểm họa này, ngoài tầm tay với của ngư dân. Tàu cá của Lập Lễ cũng như của Phả Lễ, Phục Lễ đều là tàu gỗ từ 30 tấn đến 100 tấn. Thỉnh thoảng mới có tàu 120 tấn. Cơ động nhanh.

Thoáng ẩn thoáng hiện trên ngư trường. Ra khơi vào lộng như có phép tàng hình. Tay lái lụa biết bao lần nín thở, lách theo từng lượn sóng, hiểm họa không kịp bám theo. Cuối cùng thở dài sảng khoái, cá đầy khoang thả neo bình yên trên bến cảng quê nhà. Đặc biệt là những ngày cận trước bão, không hiểu vì sao, cá biển tràn về vịnh Bắc Bộ rất nhiều. Những ngày cận sau bão cũng vậy. Đây là thời cơ nhận ra tiềm năng biển cả. Cũng là thời điểm chênh vênh hú vía của một đời người, nhiều đời người. Hơn thế nữa, nhiều gia đình. Biết vậy mà vẫn cứ vùng vẫy biển cả. Mà vẫn cứ vào lộng ra khơi. Thủy triều duềnh lên, bờ đất khô ngấm nước sủi bọt reo vui. Nắng hanh vàng bờ cỏ dại phất phơ. Cách bờ cỏ không xa, một bác trung niên lặng lẽ đứng nhìn những con tàu thả neo trên bến cảng. Tôi khẽ khàng lại gần. Dáng người chắc đậm, bác mặc soóc lửng mầu quần bò, áo may ô cải tiến, cổ tròn, hai phía ôm sát nách, hai bắp vai săm hai mỏ neo lướt sóng. Tôi cất lời làm quen:

- Chào bác. Tàu của bác đang thả neo dưới bến...

- Trước kia thì đúng như vậy. Bây giờ thì không. Tôi đã lên bờ, thu mua phế liệu...

Theo lời bác kể, trước kia gia đình bác có tàu gỗ 50 tấn, ra khơi vào lộng, tuy một nắng hai sương nhưng cũng trên mức đủ ăn. Theo phong trào, bác bán tất cả, may không vay ngân hàng, ra Cát Hải nuôi tu hài. Tưởng là một vốn mười lời, ai ngờ trắng tay. Tuổi trung niên phải làm lại từ đầu. Cũng theo lời bác kể, chiều nay chỉ toàn tàu vận tải. Mấy chiếc phía bên kia vừa xếp xong hàng, chuẩn bị nhổ neo.

Hàng ra Cát Hải. Hàng ra Cát Bà.

Có chiếc đi Đồ Sơn. Có chiếc vào Diêm Điền. Xa hơn, vào tận Ninh Bình. Cảng Mắt Rồng có hai cầu cảng bê-tông cốt thép. Tàu HP 90198 TS neo đậu ở cầu cảng nhỏ nhô ra vực sâu. Tôi lại gần. Tàu vắng bóng người. Phía bãi cỏ có hai thanh niên lực lưỡng đang ngồi như thể chờ ai. Không phải nhân viên nhà tàu. Hai anh cho biết, chủ tàu vừa lên bờ, không biết đi đâu. Bến cảng nhộn nhịp. Tàu chất đầy hàng.

Không người trông coi. Chỉ một chi tiết này thôi, đủ chứng tỏ nơi đây cuộc sống yên bình.

Cầu cảng thứ hai có một tàu gỗ neo đậu. Trên boong tàu về phía buồng lái, xếp nhiều bình ga. Cửa mở. Phía sau tay lái là một khoảng trống đủ chỗ cho hai người tránh nhau. Tiếp đến là sàn gỗ dài đến tận đuôi tàu, vừa là nơi ăn uống, vừa là giường ngủ cho mọi người.

Cuối đuôi tàu là chuồng gà kiểu dáng như thể chuồng gà của các vạn chài.

Lần này tôi gặp may. Tàu có người. Chủ tàu Phạm Văn Nhâm kiêm thuyền trưởng, máy trưởng, một mình ở lại trông tàu. Ông người Phục Lễ. Cuối thập kỷ chín mươi thế kỷ hai mươi, gia đình ông xung phong đi kinh tế mới Bạch Long Vỹ.

Bây giờ một chốn đôi quê. Bà xã cùng cháu gái bán hàng ngoài đảo.

Ông và cháu trai ở đất liền, nhà hai tầng, nội thất như thành phố. Bây giờ Bạch Long Vỹ như là căn cứ hậu cần giữa biển khơi, cung cấp đầy đủ, kịp thời mọi nhu cầu của cư dân bám đảo, bám biển. Ngoài chức năng nhiệm vụ trên, ông còn là người đi tìm hàng, gom hàng theo yêu cầu của đảo. Ngược lại, còn là người chào hàng, bán hàng, chở hàng và những sản phẩm của đảo về đất liền. Nếu sóng yên biển lặng, từ cảng Mắt Rồng ra Bạch Long Vỹ khoảng 10 tiếng đồng hồ. Đi về cũng chừng ấy thời gian. Bình thường, tàu có bốn người. Đột xuất, thêm một người thành Năm anh em trên một con tàu. Từ chuyện làm ăn đến chuyện gia đình, nhân đà cởi mở thân tình, tôi khẽ hỏi:

- Tự chọn con đường lênh đênh trên biển, ông có nét riêng gì khác người?

- Có chứ. Khi lênh đênh trên biển, mỗi bận khuya về xuôi chèo mát mái, người ta nhớ vợ ở đất liền.

Còn tôi, nhớ vợ ở đảo ngoài khơi...

Ông còn thêm nét riêng khác người nữa. Là người của biển cả, ai nấy đều ăn sóng nói gió. Nói rất to, rất gọn. Đôi khi cộc lốc nữa. Ngược lại, giọng ông thanh nhã khác thường. Câu nói đầy đủ thành phần như là văn bản phát thanh. Cách nói thư thả khẽ khàng. Ông cho tôi địa chỉ và số điện thoại di động, hẹn có dịp đón tôi lên tàu ra Bạch Long Vỹ đảo quê hương.Ông còn cho biết thêm, mọi tàu gỗ đánh cá hoặc vận tải ra vào cảng Mắt Rồng đều được đóng mới ở địa phương.

Men theo đường nhựa có dải phân cách cứng dường như cao nhất, bề thế, vững chắc nhất Việt Nam, chúng tôi tìm về nơi làm việc của Hợp tác xã đóng mới sửa chữa tàu thuyền Lập Lễ. Hai bên đường xếp đầy những thân gỗ dài hơn hai chục mét. Có cây đường kính hơn một mét. Đa phần là gỗ táu. Tiếp đến là xưởng cưa thoáng gió, chan hòa ánh sáng tự nhiên. Chứng tỏ nơi đây tiết kiệm điện tối đa. Không thấy mạt cưa, những mẩu gỗ thừa vương vãi đó đây. Thể hiện nếp sống sạch sẽ, ngăn nắp, lãng phí tối thiểu. Gần kề sông, một tàu gỗ đã xong phần mộc, đang được sơn trang trí bên ngoài. Dọc theo mạn tàu, từng dải sơn xanh đậm mầu lá cây xen kẽ mầu đỏ đậm cứ thế tiếp nhau từ đáy tàu lên giáp boong tàu.

Ca-bin xanh mầu da trời. Cửa xanh mầu nước biển. Chấn song vàng sắc nắng duyên hải. Tôi lại gần một thanh niên đang miệt mài làm việc.

Anh người thấp đậm, nước da sạm màu gió biển, đôi mắt đen thăm thẳm như đêm mùa hạ vắng trăng sao. Hình như đoán biết tôi muốn hỏi chuyện, anh khẽ lắc đầu rồi chỉ sang bác trung niên bên cạnh. Hiểu ý của anh, bác cho biết, anh bị câm điếc bẩm sinh từ bé. Lớn lên làm thợ đóng tàu. Anh pha mầu sơn rất chuẩn. Nước sơn của anh bắt nắng long lanh kỳ ảo lạ thường. Chỉ trường hợp này thôi, cũng đủ chứng tỏ HTX có cách riêng dạy nghề, tạo việc làm cho những người khuyết tật.

Chúng tôi gặp may. Chủ nhiệm Đinh Khắc Nhân có nhà. Tôi có cảm giác đây là một mô hình HTX gia đình, hình như được ra đời từ ngày đất nước đổi mới.

Ông là chủ nhiệm, lại vừa như là Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Giám đốc Công ty. Hơn thế nữa, kiêm kế toán trưởng. Đôi khi bà xã vắng nhà, kiêm luôn thủ quỹ, ông trực tiếp phát lương cho mọi người, cho chính mình. Ông năng nổ năng động hết mình, khiến cho những người trong gia đình, anh em thân tộc, năng nổ năng động theo.

Năm nay HTX nhận đóng 20 tàu gỗ các loại, đa phần từ 30 tấn đến 100 tấn.

Có tàu 150 tấn. Đặc biệt là 170 tấn, dài gần ba chục mét. Ông dẫn chúng tôi ra hiện trường, nơi đất lệch, đang sảm tàu, chống thấm nước. Sảm bằng tơ dừa. Tiếp đến là nhựa đường. Kề bên cạnh, tốp thợ khác đang lặng lẽ lắp ráp chín chấn thủy giằng ngang của tàu gỗ 100 tấn. Sát nhà làm việc, mặt bằng cao hơn, đã rải xong ván lườn tàu gỗ của chủ nhân mới ngoài ba mươi tuổi. Không có nhà xưởng nhôm kính khang trang. Công đoạn này kề công đoạn kia giữa thênh thang nắng gió.

Tận dụng tối đa mặt bằng sản xuất mà sao toàn cảnh công trường vẫn tạo nên cảm giác thưa thoáng thư thái hương đồng cỏ nội. Biết đâu, nơi đây sẽ là một gợi ý thú vị cho các cơ sở sản xuất tương lai ở ngoại thành.

Ông vừa đi vừa giới thiệu, vừa tranh thủ trả lời ngắn gọn những câu hỏi của chúng tôi: - Vốn ở đâu ? - Vốn dân, tự phát / - Bản vẽ ở đâu? -Trong bụng / -Nguồn thợ từ đâu? - Trong vùng, quanh vùng / - Ai đào tạo? - Tự đào tạo./ Nhà nào nhiều tàu nhất? - Nhà chị Huyền anh Sưa, hai tàu...Những năm cuối thế kỷ hai mươi, ông cùng tàu gỗ của HTX sang Pháp tham gia hội chợ tàu biển thế giới.

Con trai định cư ở bên ấy, gợi ý ông ở lại, rồi đón mẹ sang sau. Ông ở chơi ít lâu rồi nhất thiết đòi về. Lý do rất đơn giản, ông thích tận tay hái chùm khế ngọt chín cây ở quê nhà. Ông lý giải, vì sao dân ở đây chuộng tàu gỗ hơn tàu sắt. Ra biển, tàu gỗ chịu sóng gió giỏi hơn. Bảo quản dễ hơn, rẻ hơn. Có người đánh tiếng đầu tư 17 tỷ đồng cho một tàu sắt đánh bắt xa bờ, không ai nhận. Tuổi thọ tàu gỗ ngoài hai mươi năm, nhưng ở đây, chỉ khai thác 10 năm, rồi bán đi nơi khác.

Đóng tàu gỗ mới. Toàn dùng máy cũ của Nhật. Lo gì, chi tiết nào mòn, bộ phận nào hỏng, đã có đội ngũ cơ điện Hải Phòng. Thay vào, máy chạy ngon lành.

Giá thành siêu rẻ. Đây là một bí quyết trong nhiều biện pháp duy trì và phát triển làng nghề đóng tàu gỗ ở Lập Lễ, Phả Lễ, Phục Lễ.

Cũng theo ông, bây giờ, con cái đặt đâu, cha mẹ ngồi đấy. Không còn trường hợp yêu cô em, cưới nhầm phải cô chị.

Nhưng vẫn còn, mãi mãi còn, những ông bố vợ mong cho con rể sớm trở thành kình ngư biển cả. Bởi vậy, vẫn còn, mãi mãi còn lễ hội hát Đúm hạ thủy những con tàu vào lộng ra khơi.