Thước đo cao nhất là sức sống di sản và chất lượng sống của người giữ di sản

Ở nhiều địa phương, người dân ngày càng chủ động hơn trong việc phục hồi không gian thực hành, tổ chức truyền dạy, xây dựng câu lạc bộ, đưa di sản vào trường học và giới thiệu di sản trên các nền tảng số. Nhiều người trẻ không còn coi di sản là điều gì đó xa xôi, cũ kỹ, mà bắt đầu nhìn thấy trong di sản bản sắc, niềm tự hào, khả năng sáng tạo và cả những cơ hội nghề nghiệp mới... Đó là nhận định của TS Phạm Cao Quý (Cục Di sản văn hóa) trong cuộc trò chuyện với Thời Nay, hướng tới Ngày Di sản văn hóa Việt Nam 23/11 và Ngày Văn hóa Việt Nam 24/11.

Múa cung đình Huế.
Múa cung đình Huế.

PV: Theo ông, hoạt động quảng bá di sản cần thay đổi như thế nào để vừa lan tỏa giá trị văn hóa, vừa bảo đảm vai trò và quyền lợi của cộng đồng chủ thể?

131.jpg

TS Phạm Cao Quý: Trước đây, quảng bá thường được hiểu là giới thiệu hình ảnh, tổ chức trình diễn hoặc đưa di sản đến với đông đảo công chúng. Ngày nay, quảng bá phải bắt đầu từ việc nhận diện đúng giá trị, tôn trọng bối cảnh văn hóa và tiếng nói của cộng đồng. Không phải nội dung nào của di sản cũng có thể tách ra để trình diễn, thương mại hóa hoặc phổ biến không giới hạn.

Quảng bá tốt không chỉ làm cho di sản được nhiều người biết đến, mà còn phải giúp công chúng hiểu đúng, tôn trọng di sản và có trách nhiệm hơn với cộng đồng đang nắm giữ di sản. Những lợi ích vật chất và tinh thần hình thành từ hoạt động quảng bá, du lịch hoặc khai thác sáng tạo cũng cần được chia sẻ công bằng lợi ích, góp phần nâng cao năng lực và cải thiện đời sống của chính cộng đồng chủ thể.

PV: Mỗi hồ sơ di sản là kết quả của một quá trình chuẩn bị công phu và bền bỉ. Ông có thể chia sẻ một vài kỷ niệm hoặc khoảnh khắc đáng nhớ nhất trong quá trình xây dựng hồ sơ và thời khắc di sản của Việt Nam được UNESCO chính thức ghi danh?

TS Phạm Cao Quý: Tôi may mắn được trực tiếp tham gia nghiên cứu và xây dựng hầu hết hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được UNESCO ghi danh vào các danh sách của Công ước năm 2003. Thời khắc Ủy ban Liên Chính phủ thông qua quyết định ghi danh luôn là một khoảnh khắc đặc biệt. Đó là niềm vui, niềm tự hào và sự xúc động đối với cộng đồng, các địa phương, những người làm công tác chuyên môn…

Có những điều khi đọc tài liệu chúng ta chưa thể nhận ra, nhưng khi được ngồi cùng các nghệ nhân, nghe họ kể lại ký ức, quan sát cách họ thực hành và chứng kiến sự gắn bó giữa di sản với đời sống cộng đồng, chúng ta mới thấy hết chiều sâu của di sản. Tôi đặc biệt nhớ những cuộc trò chuyện với các nghệ nhân cao tuổi. Họ có thể không sử dụng những khái niệm học thuật, cũng không hiểu rõ UNESCO là gì, ghi danh là gì,… nhưng mỗi câu chuyện, mỗi thao tác và mỗi lời giải thích của họ đều chứa đựng một kho tri thức vô cùng to lớn và sâu sắc. Có những nghệ nhân đã dành phần lớn cuộc đời để thực hành và truyền dạy di sản mà không nghĩ rằng những gì mình đang nắm giữ lại có ý nghĩa rộng lớn đối với văn hóa quốc gia và nhân loại như vậy. Đây cũng là một trong những lý do mà tôi đã chọn chủ đề nghiên cứu về nghệ nhân để làm kiến thức căn bản tiếp cận vào khoa học về di sản văn hóa phi vật thể.

Theo tôi, niềm vui lớn nhất không phải chỉ là tên của một di sản được công bố tại một hội nghị quốc tế. Niềm vui bền vững hơn là sau ghi danh, nghệ nhân được tôn trọng hơn, người trẻ quan tâm hơn, không gian thực hành được duy trì, cộng đồng thêm tự hào và di sản có thêm cơ hội được trao truyền.

PV: Theo ông, hành trình các di sản Việt Nam được UNESCO ghi danh đã góp phần nâng cao vị thế và hình ảnh của đất nước trên trường quốc tế như thế nào?

TS Phạm Cao Quý: Trước đây, hình ảnh Việt Nam trong nhận thức của một bộ phận công chúng quốc tế có thể thường gắn với chiến tranh, lịch sử đấu tranh giành độc lập hoặc một số cảnh quan, điểm đến du lịch nổi bật. Cùng với quá trình hội nhập và sự hiện diện ngày càng rõ nét của các di sản Việt Nam tại UNESCO, hình ảnh ấy đã trở nên đầy đủ và đa chiều hơn.

Qua nhiều lần ghi danh, Việt Nam cũng từng bước được nhìn nhận không chỉ là quốc gia sở hữu một kho tàng di sản phong phú mà còn là một thành viên tích cực, có trách nhiệm trong việc thực hiện Công ước năm 2003. Việc xây dựng hồ sơ, thực hiện kiểm kê, báo cáo định kỳ và triển khai các chương trình bảo vệ cho thấy, năng lực hợp tác giữa cơ quan quản lý, giới khoa học, địa phương và cộng đồng ngày càng được nâng cao.

Đó là sức mạnh mềm rất đặc biệt của di sản. Di sản không quảng bá đất nước bằng những khẩu hiệu, mà bằng những câu chuyện có thật, những con người có thật và những giá trị đã được nhiều thế hệ sáng tạo, trao truyền, thực hành, gìn giữ.

PV: Theo ông, cần quan tâm những vấn đề gì để di sản tiếp tục được thực hành, trao truyền và mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng?

TS Phạm Cao Quý: Thước đo cao nhất của thành công không phải là số lượng danh hiệu, mà là sức sống của di sản và chất lượng cuộc sống của những người đang gìn giữ di sản. Khi cộng đồng được tôn trọng, được trao quyền, được hưởng lợi công bằng và có đủ điều kiện để tiếp tục sáng tạo, di sản sẽ trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng cho phát triển.

Tôi tin rằng, Việt Nam có một nguồn tài nguyên văn hóa vô cùng giàu có. Nguồn tài nguyên ấy không cạn kiệt khi được khai thác đúng cách; ngược lại, càng được trao truyền, chia sẻ và sáng tạo có trách nhiệm, di sản càng tạo ra nhiều giá trị mới. Mỗi cộng đồng, mỗi nghệ nhân và mỗi người trẻ tham gia gìn giữ di sản đều đang góp phần làm giàu thêm hình ảnh đất nước, củng cố bản sắc dân tộc và đưa văn hóa Việt Nam đến gần hơn với bạn bè quốc tế.

PV: Xin cảm ơn những chia sẻ của ông!

Có thể bạn quan tâm