Nhân dịp này, Thời Nay đã có cuộc trò chuyện với dịch giả Bùi Văn Nam Sơn xoay quanh chủ đề triết học và phát triển nền học thuật Việt Nam.
Bùi Văn Nam Sơn là một trong những dịch giả hàng đầu trong lĩnh vực dịch thuật triết học tại Việt Nam trong khoảng hai thập niên trở lại đây. Bằng các hoạt động dịch thuật, viết sách, ông đã góp phần không nhỏ trong việc khơi dậy tình yêu triết học của người trẻ.
Phóng viên (PV): Sau 20 năm "hành triết" ở Việt Nam, với các hoạt động dịch thuật, giảng dạy, ông thấy cộng đồng quan tâm đến triết học có phát triển hơn không?
Dịch giả Bùi Văn Nam Sơn: Ở khoảng cách nào đó của người theo dõi sinh hoạt triết học, tôi thấy có rất nhiều tiến bộ, mừng lắm! Thứ nhất là số người do nhiều lý do vẫn dành thời gian cho những vấn đề về tư tưởng, về đạo lý ở bên ngoài các trường đại học thông qua các cuộc hội thảo, những buổi gặp gỡ ra mắt sách như Cà-phê thứ Bảy ở cả Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, hay những sinh hoạt như Trường Đông Triết học. Điều đó chứng tỏ rằng, môi trường triết học vẫn phát triển, là một mạch ngầm âm thầm chảy, rất đáng mừng so với trước đây.
Tuy nhiên vẫn có một điều hơi đáng lo, đáng tiếc là số người đọc hiện nay vẫn ít quá. Tôi cứ tưởng là với mức độ phát triển kinh tế hiện nay, lẽ ra số người đọc sách, mua sách cũng phải tăng lên tương ứng chứ. Đằng này, có vẻ như càng ngày càng tệ. Trước đây, có những cuốn sách có thể in tới vài trăm nghìn bản, có thể phổ thông cho toàn dân. Những con số nghe như huyền thoại, trong thời điểm hiện nay có những tác phẩm dù rất có giá trị nhưng cũng chỉ in 1.000 bản mà bán mãi không xong, thậm chí có cuốn in 300 bản, 500 bản, trong khi mình có hàng triệu học sinh, hàng triệu sinh viên - là những đối tượng được sống trong môi trường thuận lợi nhất để xây dựng nền học thuật nói chung - đó là điều băn khoăn nhất của tôi.
Một đời sống học thuật đòi hỏi phải có hàng trăm thư viện đến tận nông thôn để mọi người dân đều có thể đọc sách. Nhà nước phải “bao cấp” về mặt văn hóa, tài trợ cho các hoạt động học thuật, nhiều nước Âu châu phát triển cũng vẫn đang làm như vậy.
PV: Nhiều người cho rằng, Việt Nam không có một truyền thống triết học, quan điểm của ông như thế nào ạ?
Dịch giả Bùi Văn Nam Sơn: Mình có truyền thống Nho học hàng nghìn năm với rất nhiều ông nghè ông cống đó chứ. Chỉ có điều là ta không biết tiếp tục phát huy truyền thống đó như thế nào. Từ trước những năm 1945, sinh hoạt về học thuật đã khá sôi nổi từ khi mình tiếp thu phương pháp nghiên cứu của phương Tây. Thế hệ những nhà trí thức lớn, sĩ phu ra đời - một thế hệ vàng, tạo ra một kích thích mới cho giới nghiên cứu. Lần đầu tiên các ngành khoa học xã hội nhân văn có một phương pháp khoa học.
Tuy nhiên, truyền thống triết học theo nghĩa chặt chẽ là một nền triết học kiểu như phương Tây thì mình không có. Nhưng rõ ràng mình phải khôi phục lại học phong - một phong cách yêu chuộng học thuật đã có, hiện đang bị lấn át, mai một.
PV: Tại sao ông lại chọn theo đuổi con đường triết học?
Dịch giả Bùi Văn Nam Sơn: Cái này tôi nghĩ đó là vấn đề hoàn toàn cá nhân. Không có tài nghệ gì khác thì đi học triết thôi, học triết thì làm triết học, cũng chẳng có gì gọi là cao xa cả. Nhưng lẽ ra là phải có nhiều người hơn nữa, chứ vài ba người thì ăn thua gì. Cần cả một thế hệ để làm công việc chuẩn bị nền tảng vật chất cho học thuật, tức là trang bị hạ tầng tri thức, sách vở, thư viện một cách có hệ thống.
Khi đi ra ngoài, tôi mới thấy một điều nguy hiểm là mình quá thiếu sách vở, tức là hạ tầng tri thức của xã hội quá chậm, quá manh mún. Cá nhân tôi ở tuổi xế chiều, chỉ biết làm những việc rất nhỏ bé, như dịch một cuốn sách mình đã học, trước là cho mình. Dịch sách là để mình tự học vì dịch giúp cho mình cách làm việc kỹ, trung thực, rèn luyện tiếng Việt bởi tôi xa đất nước từ năm mới 20 tuổi, ở nước ngoài 40 năm nên tiếng Việt cũng mòn mỏi dần.
Lẽ ra phải có một phong trào dịch thuật do nhà nước khởi xướng, chỉ đạo một cách sâu sát, giống như nước Nhật thời Minh Trị. Hay như Hàn Quốc, họ có một chiến lược quốc gia về việc chuyển giao văn hóa, phải dịch một cách khoa học, hệ thống sách vở của phương Tây bởi đó là hạ tầng tri thức.
PV: Một nền học thuật phát triển có những đặc điểm gì? Theo ông, một môi trường cần thiết cho học thuật phát triển cần như thế nào?
Dịch giả Bùi Văn Nam Sơn: Đánh giá học thuật của một nước ở đâu, mình xem họ đã in được bao nhiêu sách rồi. Trên thế giới một trăm mấy chục nước, riêng Âu châu 27 nước, đâu phải ai cũng biết đủ 27 thứ tiếng, như vậy thì bắt buộc phải dịch thôi. Việc dịch thuật là một nhu cầu sinh tử của mọi trường đại học trên thế giới. Châu Âu và nhiều nước từng hối hận vì lỡ chậm dịch một tác phẩm gì đấy khiến họ lạc hậu, họ giật mình sau mấy mươi năm, giả dụ cuốn này được dịch sớm hơn thì nền học thuật của họ đã khác rồi. Người Pháp họ viết bằng tiếng Pháp, người Anh họ dùng tiếng Anh, người Đức dùng tiếng Đức, họ vẫn dịch tất cả sách của thiên hạ. Một sinh viên người Đức chẳng hạn, 20 tuổi họ được hưởng sự thuận lợi là họ đọc được tất cả sách vở trong thiên hạ bằng tiếng Đức. Trong khi người Việt mình, cũng là sinh viên như vậy, mà mình rất vất vả.
Tôi lấy thí dụ như kinh nghiệm Nhật Bản hay Hàn Quốc. Sở dĩ họ phát triển như hiện nay bởi vì họ dịch ghê gớm lắm. Từ thời Minh Trị của Nhật Bản họ đã xây dựng việc dịch thuật như một chiến lược quốc gia.
Tôi nhớ hoài một kỷ niệm của tôi, khi tôi dịch xong cuốn “Phê phán lý tính thuần túy” của Kant, tôi viết thư khoe với một ông bạn Hàn Quốc đang làm giáo sư ở Seoul: “Đây, chất lượng Đức đàng hoàng nghen”. Ông viết lại cái thư chúc mừng tôi và chọc quê tôi: “Xin lỗi bạn là tụi tôi đã xong cái toàn tập Kant từ lâu rồi”. Toàn tập. Cuốn “Phê phán lý tính thuần túy” Nhật Bản có đến ba bản dịch khác nhau. Mà không phải chỉ Kant đâu, toàn bộ tư tưởng phương Tây họ đã dịch một cách hệ thống, toàn tập hết. Cho đến khi tôi sang du học ở bên Đức, mấy năm đầu rất khó khăn, vì tiếng Đức khó quá, mình đọc hết hơi mỗi ngày được vài ba trang mà cô bạn Nhật Bản bên cạnh bé hơn tôi mấy tuổi, nhưng sao cô giỏi quá, cái gì cũng biết. Té ra cô lôi trong ba-lô ra một đống sách toàn tiếng Nhật, sách chú giải, từ điển. Họ đọc cái đó thì khỏe không mà. Mình thì ngồi vật vã cả ngày mới đọc được vài ba trang, họ đọc cái vèo ba chục trang, vậy thì hỏi làm sao mình đấu lại được với họ, có phải tội nghiệp cho mình không. Đâu phải họ thông minh hơn mình, chỉ vì họ có cơ sở hạ tầng tri thức quá phong phú.
Những chuyện đơn giản như vậy nó làm cho mình thấy rằng, mình cần giúp cho anh em, cho tuổi trẻ của mình đỡ mất thời giờ, tội nghiệp, không đáng. Không đáng để mất 3 năm mới đọc được một cuốn sách, trong khi người Nhật họ đọc có 3 tháng chỉ vì họ có sẵn tư liệu đầy đủ. Từ đó mình thấy, chết rồi, hai mươi năm sau, thì không biết Hàn Quốc họ đã đi tới đâu rồi. Chỉ sau 10 năm, người Hàn Quốc đã đủ tư cách đăng cai Đại hội Triết học Thế giới, chỉ dành cho quốc gia có đủ điều kiện cơ sở vật chất, không phải là nhà cửa phòng ốc đâu, mà cơ sở vật chất là thư viện, sách vở, số lượng dịch phẩm, công trình khoa học, giáo sư. Khi nào Việt Nam mình làm được? Không phải có tiền mà được đâu. Phải có chất lượng thật sự thì mới được quyền đăng cai.
PV: Xin cảm ơn ông!
Dịch giả Bùi Văn Nam Sơn có bằng Tiến sĩ chuyên ngành Triết học, Xã hội học và Trung Quốc học tại trường W. von Goethe Frankfurt, CHLB Đức. Ông đã dịch, chú giải các bộ triết học kinh điển, đồ sộ như “Phê phán lý tính thuần túy” (2004), “Phê phán năng lực phán đoán”, “Phê phán lý tính thực hành” (2007)… của Kant; “Hiện tượng học tinh thần” (2006), “Khoa học Lôgíc” (2008), “Các nguyên lý của triết học pháp quyền” (2010)… của Hegel. Từ năm 2012 đến 2020, ông viết bộ “Trò chuyện triết học” (9 tập), xuất bản bộ sách “Triết học cho bạn trẻ” với các cuốn “Chat với Hannah Arendt” (2016), “Chat với John Locke” (2016), “Chat với René Descartes” (2017)… Ông đã được nhận được giải thưởng “Tinh hoa giáo dục quốc tế” (2006) của Đại học Quốc gia Hà Nội và Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh cho bản dịch và chú giải “Phê phán lý tính thuần túy” của Immanuel Kant.