Là người luôn tâm huyết với văn hóa dân tộc, nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ chia sẻ về vấn đề này.
Phóng viên (PV): Theo quan điểm của ông, nghệ thuật truyền thống có ý nghĩa như thế nào trong cấu trúc văn hóa quốc gia?
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ: Nghệ thuật truyền thống (còn gọi là nghệ thuật cổ truyền) đã tồn tại lâu dài trong cộng đồng, trong xã hội và còn lại đến hôm nay. Những giá trị của nghệ thuật truyền thống đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của cộng đồng, tạo nên bản sắc văn hóa cộng đồng và làm nên nền tảng cơ bản nhất cho sự phát triển tổng thể văn hóa hiện đại và tương lai của cộng đồng xã hội. Nó chính là tinh hoa của văn hóa ở cấp độ cộng đồng quốc gia-dân tộc như quan niệm hiện nay.
PV: Trong đời sống hiện đại hôm nay, ông nhìn nhận nghệ thuật truyền thống đang đứng ở đâu và giữ vai trò ra sao?
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ: Theo quan niệm của tôi, nghệ thuật truyền thống đang chứa chan trong bất cứ loại hình nghệ thuật nào của Việt Nam cho dù đó là hội hoạ, kiến trúc, điêu khắc hay âm nhạc. Còn trong văn chương, sân khấu, vũ đạo thì lại càng giàu phẩm giá của nghệ thuật truyền thống. Việt Nam bước vào thời kỳ hiện đại trên nền tảng của suối nguồn nghệ thuật truyền thống và thành tựu là rất đáng ghi nhận, đặc biệt là sau 1945 và sau 1975. Không phải quốc gia hay vùng lãnh thổ nào trên thế giới cũng có một hướng phát triển và có những thành quả như vậy. Hiện nay lại càng như vậy dù có những phức tạp của tiếp biến văn hóa phạm vi toàn cầu. Nghệ thuật truyền thống mãi mãi là nền tảng cho sự phát triển và đổi mới, hòa nhập. Những giá trị nghệ thuật truyền thống nuôi tư duy của nghệ sĩ sáng tạo và quy định tính cách sáng tạo của nghệ sĩ. Cá nước ngọt sống ở sông hồ khe suối và cá nước mặn sống ở biển. Dù có thể viết văn bằng tiếng nước ngoài nhưng cái chất vẫn là truyền thống ngôn ngữ và văn chương trong tâm hồn tác giả.
PV: Có ý kiến cho rằng nghệ thuật truyền thống chính là “căn cước thẩm mỹ” của xã hội, là nền tảng của sức mạnh mềm quốc gia. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ: Không chỉ là đồng tình, mà tôi còn rất tự hào về điều đó. Chúng ta biết rằng, trong số 7.159 ngôn ngữ đang được sử dụng trên thế giới thì có đến khoảng 3.193 ngôn ngữ đang đứng trước nguy cơ biến mất. Tiếng Việt không những không nằm trong nguy cơ đó mà ngày càng phát triển theo truyền thống từ xưa để lại. Bài học đầu tiên chúng tôi học môn ngôn ngữ là ý kiến của Các-Mác về "tư duy": Đầu tiên là lao động, sau đó và cùng với lao động là ngôn ngữ mà chúng ta có tư duy. Tôi đã gặp những ngôn ngữ ở cấp quốc gia mà chính họ thừa nhận không thể đủ để tư duy khoa học trong thế giới hiện đại. Giá trị cơ bản là xác lập năng lực tư duy và sáng tạo. Truyền thống nghệ thuật cũng dựa trên tính đặc sắc của tư duy. "Căn cước thẩm mỹ" chính là bản sắc thẩm mỹ.
Theo các định đề của Claude Lévi-Strauss, nhà nhân chủng học xuất sắc của thế kỷ XX, “linh hồn” của UNESCO, thì bản sắc sẽ được xác định bởi việc một cộng đồng ứng xử và tạo nên giá trị cho một thành tố văn hóa, bất chấp nguồn gốc của thành tố đó. Hay nói cách khác, nguồn gốc thành tố văn hóa chỉ là một thông số thứ yếu để xác định bản sắc mà thôi. Vậy, bản sắc nghệ thuật truyền thống sẽ là sự khẳng định cộng đồng mình trước các cộng đồng khác và quan trọng hơn là sự đóng góp trực tiếp vào văn hóa nhân loại. Chúng ta đã có rất nhiều thành tựu trong thế giới hiện đại này. Chính điều đó, chúng ta được thế giới thừa nhận, quý mến. Cái đó gọi là năng lực mềm, sức mạnh mềm.
PV: Từ góc nhìn thực tiễn, ông đánh giá nghệ thuật truyền thống có thể đóng góp như thế nào cho sự phát triển văn hóa và kinh tế, đặc biệt trong các lĩnh vực như du lịch hay công nghiệp văn hóa?
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ: Hơi riêng một chút, có người lo lắng hỏi tôi là cứ ba-lô trên vai đi giúp nhiều nơi như vậy (nghiên cứu, trao đổi về quan họ; viết lời mới cho hò Quảng Bình (cũ); viết lời mới cho hát văn… - PV) thì được gì? Điều đầu tiên tôi nghĩ là trả nghĩa cho dân, điều thứ hai thiết thực hơn là một di sản đẹp đẽ của một vùng đất sẽ làm cho khắp nơi, khi gặp con người ở vùng ấy đi ra, sẽ có ấn tượng tốt đẹp về nhau, tin cậy nhau, dễ tương trợ, giúp đỡ nhau hơn. Đó là giá trị không đong đếm được giúp người ta tồn tại, lập nghiệp và hạnh phúc.
Chính tôi mang nặng ân nghĩa đó với quê hương của mình mà sống tới hôm nay. Thế thì, với nghệ thuật truyền thống, hoàn toàn có thể giúp cho sự thông hiểu, với nghĩa tích cực nhất, để mọi người trên Trái đất tin cậy mà đến với nhau. Du lịch hay công nghiệp văn hóa được xây dựng bền vững trên cơ sở đó. Tôi thường ít nghĩ đến các khái niệm "dòng tiền" hay "thu nhập thụ động"... đang rôm rả trên truyền thông mạng. Nhưng những giá trị chân - thiện - mỹ thì tôi tin chắc ai cũng tri âm từ cõi lòng. Người ta đến với nhau và hạnh phúc vì điều đó.
PV: Thực tế cho thấy, việc bảo tồn và phát huy các loại hình nghệ thuật truyền thống hiện nay vẫn còn không ít khó khăn. Vậy đâu là những “điểm nghẽn” và cần tháo gỡ ra sao?
Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ: Chúng ta luôn luôn có giải pháp đúng đắn về mặt đường lối. Tuy nhiên khi thực hiện còn chưa được như ý. Vấn đề là con người thực hành trong thiết chế cũng như sự vận hành của thiết chế. Nhiều khi, có người không gắn kết được hài hòa 4 khuyến nghị của UNESCO (đồng bộ Thấu hiểu - Bảo tồn - Phát huy - Quảng bá) về di sản văn hóa nói riêng và nghệ thuật truyền thống nói chung. Họ điều hành lúng túng và có những can thiệp khô cứng. Về thiết chế văn hóa, chúng ta còn ít kế hoạch cụ thể phù hợp với từng di sản nghệ thuật truyền thống cụ thể. Thành ra, nhiều năng lực nghệ thuật xuất sắc đang bị phí phạm trong quá trình bảo tồn, phát triển và quảng bá truyền thống nghệ thuật dân tộc. Thật đáng tiếc. Vừa là thiết chế, vừa là người thực hành, cái đó làm cho chúng ta chưa thật hài lòng với kỳ vọng.
Chúng ta đã định vị nghệ thuật truyền thống trong tổng thể phát triển văn hóa quốc gia ngay từ khi có Đề cương về văn hóa Việt Nam 1943. Vị trí của nghệ thuật truyền thống là hiển nhiên. Có điều, ý thức về nó, có kế hoạch, chương trình mạch lạc, có cách làm và đầu tư cho người và việc hợp lý và đúng đắn. Đó là điều cần thiết hiện nay.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!
Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ (sinh năm 1956) nhiều năm công tác tại Khoa Văn học - Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội. Ông cũng là một trong những sáng lập viên của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Với kinh nghiệm nhiều năm giảng dạy, nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành, và tham gia trực tiếp vào các hoạt động khảo cứu, bảo tồn di sản văn hóa ở nhiều địa phương, ông thường xuyên có những đóng góp tích cực vào việc nhận diện giá trị văn hóa truyền thống cũng như đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm phát huy các giá trị đó trong đời sống đương đại.