Những nội dung rất cô đúc của Nghị quyết không phải là lời kêu gọi, mong ước mà chính là những yêu cầu bao trùm, là đòi hỏi khách quan của lịch sử dân tộc trong kỷ nguyên mới.
Tính kế thừa và sự phát triển lý luận về văn hóa trong Nghị quyết 80 được thể hiện rất rõ trong luận điểm cơ bản về văn hóa và đó là sự tổng kết thực tiễn chủ yếu trong gần 40 năm đổi mới, từ năm 1986 đến nay.
Quan điểm bao quát, toàn diện vai trò của văn hóa
Các Nghị quyết trước đây, từ Nghị quyết TW 5 (khóa VIII, năm 1998) đến Nghị quyết 33 (khóa XI, năm 2014) đều xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội. Nghị quyết 80 không còn từ “tinh thần” mà gợi mở một nhận thức mới, để có thể phát triển bền vững đất nước, văn hóa/phải trở thành, phải là nền tảng vững chắc của sự phát triển đó. Một quan điểm sâu và mới, bao quát toàn diện vai trò của văn hóa.
Luận điểm “làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người” là luận điểm xác định phương hướng phát triển văn hóa, được khẳng định trong Nghị quyết TW 5 (năm 1998). Tôi nhớ rất rõ, trong bức thư tay của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Bộ Chính trị góp ý cho dự thảo Nghị quyết này, Thủ tướng bày tỏ sự tán đồng sâu sắc luận điểm “thấm sâu” này, coi là một nhiệm vụ lớn lao của xây dựng văn hóa.
Kế thừa trọn vẹn luận điểm trên đây, Nghị quyết 80 tiếp tục đào sâu hơn, nêu yêu cầu và nhiệm vụ cụ thể hơn nữa, không dừng lại ở các quan hệ xã hội, mà đặt ra đòi hỏi mới: “Văn hóa phải “thấm sâu” từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới”. Cụ thể và bao quát hơn nữa, song mang tính chiến lược, Nghị quyết 80 nhấn mạnh yêu cầu có tính nguyên tắc: “Văn hóa phải thấm sâu vào mọi quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án với tầm nhìn dài hạn và tiêu chuẩn cao, bảo đảm đồng bộ, tương hỗ với các chính sách, giải pháp đột phá về phát triển kinh tế, giáo dục, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số”. Nhiều năm qua, chúng ta đã kiên trì, nỗ lực triển khai thực hiện quan điểm “thấm sâu” này, song kết quả còn nhiều hạn chế. Những biểu hiện như “thiếu văn hóa, dưới văn hóa, thậm chí phản văn hóa, vô văn hóa” chưa được ngăn chặn, có khi còn gia tăng đáng lo ngại. Từ thực tiễn đó, nội dung trên của Nghị quyết 80 là một đòi hỏi cao, một thử thách gay gắt đối với nhiệm vụ phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới.
Bước phát triển mới của văn hóa Việt Nam
Từ tầm nhìn mới, bao trùm về văn hóa trên đây, Nghị quyết 80, lần đầu tiên, đã đưa vào hai phạm trù mới về văn hóa, đó là, văn hóa là “trụ cột” và “hệ điều tiết” cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Như vậy, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa trở thành bốn trụ cột của sự phát triển.
Đã là trụ cột thì tất yếu phải xây dựng vững chắc, lâu dài. Thực hiện triệt để tư tưởng trên, đòi hỏi chúng ta phải kiên quyết khắc phục khuynh hướng chỉ chú trọng tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà coi nhẹ xây dựng, phát triển văn hóa, con người.
Con người sáng tạo ra văn hóa và đến lượt mình, các giá trị và chuẩn mực văn hóa lại giúp con người “tự hoàn thiện nhân cách” của mình, tự điều tiết các quan hệ của con người với thế giới và với chính mình. Sức mạnh đó bắt nguồn từ các giá trị và chuẩn mực văn hóa trong nhân cách con người và đó là những nhân tố quyết định vai trò và chức năng điều tiết văn hóa đối với sự vận động của các lĩnh vực trong đời sống xã hội, tạo nên sự phát triển hài hòa của các quan hệ cơ bản giữa con người với tự nhiên, con người với xã hội, con người với cộng đồng và trong bản thân nhân cách, phẩm chất của chính mình. Sức mạnh điều tiết của văn hóa là ở đó, đúng với nhận định của UNESCO, rằng, “phát triển cần thừa nhận văn hóa giữ vị trí trung tâm và vai trò điều tiết xã hội”.
Nhiều năm qua, chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến vai trò này của văn hóa. Tập trung trí tuệ để xây dựng hệ thống pháp luật nhằm “điều chỉnh” các vấn đề xã hội, song đồng thời phải phát huy mạnh mẽ, thực chất vai trò “điều tiết” của văn hóa, bởi vì pháp luật không thể có mặt ở mọi khía cạnh, mọi vấn đề của cuộc sống con người. Như trong Phật pháp có lời răn đối với con người: “Thanh lọc tâm” để con người tự hoàn thiện, vươn lên cái thiện, cái chân, vượt qua cái tham, sân si. Chỉ có bằng văn hóa mới thực hiện được điều đó.
Từ những nhận thức mang tầm đột phá trên, Nghị quyết 80 xác định bước phát triển mới của văn hóa Việt Nam, phải góp phần “định vị quốc gia trong trật tự thế giới mới” và phải “ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội, gắn với xây dựng thế trận an ninh văn hóa, an ninh con người, chủ quyền văn hóa số”.
Năm 1943, trong “Đề cương về văn hóa Việt Nam”, Đảng đã khẳng định, “văn hóa là một trong ba mặt trận, ở đó, người cộng sản phải hoạt động”. Kế thừa một cách nhất quán và sáng tạo trong bối cảnh hoàn toàn mới của thế giới hiện đại đang biến đổi khó lường, Nghị quyết 80 đã chỉ ra một nhiệm vụ mới: “xây dựng thế trận an ninh văn hóa”. Nội hàm của thế trận này ở một số yếu tố cơ bản sau: Phát huy tối đa giá trị và sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới; xử lý hài hòa, hiệu quả các quan hệ nội tại của văn hóa, giữa xây và chống, truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế; khuyến khích và tôn trọng sự phát triển ngày càng đa dạng của văn hóa Việt Nam hiện đại, đồng thời tập trung quyền lực, vật lực, tài lực cho dòng chủ lưu của văn hóa là yêu nước, độc lập, dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và thế giới, góp phần gia tăng sức mạnh mềm quốc gia, đồng thời xây dựng thế trận văn hóa gắn với quốc phòng, an ninh; xây dựng bản lĩnh, “sức đề kháng” trước các tác động phức tạp và lệch chuẩn của văn hóa ngoại lai phản cảm, phi văn hóa, “nhất là trên các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới”…
Điểm mới nổi bật trong đường lối, quan điểm phát triển văn hóa trong Nghị quyết 80 chính là “phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hóa”. Từ đó, Nghị quyết 80 khẳng định: “ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa là một trong “ba lĩnh vực đột phá”. Và để thực hiện nhiệm vụ mới này, Nghị quyết yêu cầu “xây dựng cơ chế, chính sách đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa; ban hành bộ quy tắc ứng xử trên không gian số; làm trong sạch môi trường văn hóa số; xây dựng hệ sinh thái văn hóa…”.
Nghị quyết 80 nhấn mạnh phép biện chứng “phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới và xây dựng con người để phát triển văn hóa”. Luận điểm này cực kỳ quan trọng, vì trong thực tiễn, đã xuất hiện tình trạng tách rời hai yêu cầu đó, hoặc biến văn hóa thành trò giải trí đơn thuần, sử dụng văn hóa để chỉ bộc lộ “cái tôi nội cảm” cá nhân, ích kỷ, hoặc chỉ coi văn hóa là những hoạt động nghiệp vụ cụ thể, không tập trung hướng tới mục tiêu trọng tâm, cốt lõi là nuôi dưỡng, xây dựng con người. Vì thế, nhiều năm qua, văn hóa chưa đủ để tác động có hiệu quả xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh; tình trạng suy thoái nhân cách, cái ác, cái giả, cái xấu có chiều hướng gia tăng, gây lo lắng, bất an và bức xúc trong xã hội.
Thực hiện trọn vẹn, hiệu quả các yêu cầu đổi mới căn bản và nhiệm vụ về phát triển văn hóa trong Nghị quyết 80, chúng ta sẽ tạo được cho văn hóa Việt Nam hiện đại một vị thế và tầm vóc mới, đóng góp xứng đáng vào dòng chảy văn minh nhân loại. Thách thức mới đang đòi hỏi một quyết tâm sắt đá với sự nỗ lực hành động của toàn dân tộc ta.
Trong phần Tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam nêu rõ: Xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó, con người là trung tâm, chủ thể, mục tiêu, động lực của phát triển; các giá trị văn hóa giữ vai trò nền tảng, chuẩn mực và được thẩm thấu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.