14 năm, đã trải qua và chứng kiến nhiều thay đổi trong cách xã hội tiếp cận và giúp trẻ em khuyết tật hòa nhập, song chị Tình vẫn cảm nhận rõ rệt về những rào cản ngôn ngữ và sự hạn chế giao tiếp khiến con dễ cảm thấy lạc lõng, thiếu tự tin.
Hành trình làm mẹ “nhiều khác biệt”
Chị Nông Thị Tình là mẹ của Hà Châu, cô bé 14 tuổi thông minh, hiếu học. Đồng hành cùng đứa con khiếm thính bẩm sinh đến thời điểm này, chị hiểu rõ, khó có thể nối gần khoảng cách với con trẻ khi người thân trong gia đình không biết ngôn ngữ ký hiệu hoặc cách giao tiếp phù hợp. “Con có thể cảm nhận được sự xa cách ngay tại tổ ấm của mình. Chẳng hạn, trong bữa cơm, khi cả nhà trò chuyện hay xem thời sự, con luôn tò mò muốn biết mọi người đang trao đổi nội dung gì, con có nhu cầu rất lớn trong việc tìm hiểu các vấn đề chung quanh nhưng luôn có một rào cản lớn”, chị Tình chia sẻ.
Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp, kết nối mọi người, nếu thiếu nó, trẻ dần mất đi thói quen và nhu cầu chia sẻ. Đó là điều mà chị Tình sớm nhận ra và luôn mong bù đắp cho con. Chị kể: “Mong lắng nghe tâm tư của con, tôi luôn chủ động gợi mở các câu chuyện, tình huống để hỏi han về việc học tập hoặc cảm xúc của con hằng ngày. Tôi trao đổi với con về những vấn đề liên quan đến người khuyết tật để xem con có hiểu những gì họ đang nói hay không”. Không phải thành viên nào trong gia đình cũng có thể dành được thời gian và kiên nhẫn đồng hành với con từ nhỏ. Với những hướng dẫn nhỏ nhất, mỗi khi có tình huống mới phát sinh, chị đều tạm dừng mọi công việc để giải thích chi tiết, giúp con nhận thức được vấn đề.
“Thí dụ, tôi giải thích cho con về một bữa cơm gồm những ai, có món gì và cần chuẩn bị những gì. Lâu dần, con hình thành được nhu cầu tìm hiểu và sẻ chia, hoặc khi gặp khó khăn, con biết dùng ánh mắt tìm kiếm sự hỗ trợ. Từ đó, con dần hình thành thói quen chủ động tìm hiểu đời sống chung quanh”, chị Tình nhớ lại. Kết quả sau những năm tháng kiên trì của mẹ con chị Tình là đến nay Hà Châu đã chững chạc, phát triển toàn diện. Thay vì thu mình lại, khi gặp khó khăn, Hà Châu chủ động tìm hiểu thông tin và kết nối với mọi người. Cô bé khiếm thính đã vượt qua rào cản môi trường và ngôn ngữ, tự tin khẳng định nhu cầu chia sẻ của bản thân. “Tôi tin rằng đối với một người mẹ, sự kiên trì là yếu tố quan trọng nhất. Chúng ta cần luôn tôn trọng nhu cầu tìm hiểu thông tin của con, hằng ngày quan tâm xem con muốn tiếp nhận điều gì để kịp thời trao đổi và chia sẻ cùng con”, chị Nông Thị Tình nhắn nhủ.
Nhưng không phải gia đình nào cũng có thể làm được điều này, đến khi trẻ khiếm thính nói riêng, trẻ em khuyết tật nói chung bước vào giai đoạn trưởng thành, rời khỏi gia đình để bước vào xã hội, các em tiếp tục đối mặt với những thử thách mới. Đó cũng là trăn trở suốt nhiều năm của cô Trần Thị Thiệp, nguyên Phó Chủ nhiệm Khoa Giáo dục đặc biệt, nguyên Trưởng bộ môn Giáo dục trẻ khiếm thính và trẻ khuyết tật ngôn ngữ, Trường đại học Sư phạm.
“Thời gian còn công tác, tôi từng có một học sinh rất yêu thích và mong muốn được tham gia vào các chương trình văn nghệ của nhà trường. Tuy nhiên em lại không được vào đội văn nghệ như mong đợi. Sau lần nghe em trò chuyện, tôi nhận thấy rào cản không xuất phát từ năng lực của bản thân em học sinh, mà đến từ định kiến của những người chung quanh. Các bạn học và nhiều người cho rằng trẻ khiếm thính là “thua thiệt”, “yếu kém” và mặc định rằng các em không tham gia được nên đã không trân trọng và không tạo cơ hội cho em”, cô Thiệp phân tích và nhấn mạnh: Năng lực của trẻ bị bỏ qua là một điều rất đáng tiếc vì thực tế các em không hề chậm hay kém cỏi. Trẻ đặc biệt, trẻ khuyết tật dù ở nhiều loại hình, hoàn toàn có khả năng thực hiện tốt mọi nhiệm vụ nếu được trao cơ hội.
Kỳ vọng với “hòa nhập ngược”
Theo cô Thiệp, trẻ khiếm thính, khiếm thị và trẻ khuyết tật nói chung trải qua nhiều giai đoạn trưởng thành. Ở mỗi giai đoạn, các em lại đối mặt những khó khăn khác nhau. Cô Thiệp đánh giá: “Hiện nay môi trường giáo dục đã đa dạng và linh hoạt hơn, có sự chuyển biến trong giáo dục hòa nhập. Thay vì chỉ tập trung vào trường chuyên biệt như trước những năm 1990, hiện nay các em có quyền và cơ hội tham gia học tập tại các trường hòa nhập”. Cô Thiệp cũng khuyến khích: “Ở lứa tuổi trung học, các em khiếm thính cần phải mạnh dạn lên tiếng, tự nói lên nhu cầu của mình và khẳng định năng lực bản thân để tháo gỡ những rào cản vô hình từ sự thiếu hiểu biết của cộng đồng”.
Chẳng hạn, Trường PTCS Xã Đàn đã áp dụng mô hình linh hoạt, kết hợp giữa lớp chuyên biệt và lớp hòa nhập, hoặc “hòa nhập ngược” - nghĩa là đưa trẻ nghe bình thường vào học cùng trẻ khiếm thính để tạo môi trường giao lưu tốt nhất. Hiện nay, ngôi trường với hơn 70% học sinh khiếm thính này đang áp dụng mô hình “hòa nhập ngược” rất thành công. Mô hình được nhen nhóm ý tưởng và thực hiện từ khoảng năm 1988. “Thời điểm đó, Việt Nam chưa có các chính sách chính thức về giáo dục hòa nhập. Mãi đến năm 2006 mới bắt đầu có quy định đầu tiên nên việc đưa trẻ khiếm thính ra ngoài học tập gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, Trường Xã Đàn đã chọn cách làm ngược để có thể áp dụng và thử nghiệm mô hình giáo dục hòa nhập ngay tại trường”, cô Thiệp nhớ lại. Ban đầu, nhà trường mở các lớp ở hệ tiểu học có học sinh nghe bình thường để các em khiếm thính có khả năng sử dụng ngôn ngữ ký hiệu tốt hoặc đã có thiết bị hỗ trợ như máy trợ thính, ốc tai điện tử, có cơ hội học tập chung. Từ những lớp ban đầu, trường đã kết hợp cả các lớp chuyên biệt và các lớp hòa nhập, cho phép giáo viên điều tiết để học sinh được học trong môi trường phù hợp nhất với khả năng của mình. Theo cô Trần Thị Thiệp, mô hình này không chỉ giúp xóa bỏ rào cản tự ti cho học sinh khiếm thính mà còn giúp các học sinh bình thường khác làm quen, hiểu và tôn trọng sự khác biệt của những người chung quanh.
Theo bà Dương Thị Bích Diệp, Chủ tịch Quỹ Vì trẻ em khuyết tật Việt Nam, dự án dạy ngôn ngữ ký hiệu trên TikTok do Quỹ và đối tác triển khai là một phần trong chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng. Quỹ đã ký kết hợp tác với TikTok Việt Nam để triển khai dự án thông qua sản xuất các clip ngắn về ngôn ngữ ký hiệu, đăng tải trên TikTok. Dự án không chỉ dành riêng cho các em khiếm thính mà tập trung vào cộng đồng người nghe bình thường với mục tiêu “tạo trend”, biến việc học ngôn ngữ ký hiệu thành một xu hướng trong giới trẻ. Từ đó thúc đẩy xã hội công nhận đây như ngôn ngữ thứ hai, cũng như phổ biến cách giao tiếp, hiểu và sử dụng ngôn ngữ ký hiệu.
Tuy nhiên, hành trình thay đổi nhận thức xã hội về người khuyết tật vẫn còn cần nhiều nỗ lực. Những đứa trẻ rồi cũng trưởng thành, bước ra môi trường xã hội cần được định hướng nghề nghiệp và tạo cơ hội việc làm bình đẳng. “Theo tôi, đào tạo nghề phù hợp mở ra cơ hội thay đổi cuộc đời các em. Trẻ cần được tư vấn định hướng nghề nghiệp dựa trên sở thích và khả năng như mỹ thuật, sư phạm đặc biệt, hay các công việc chăm sóc da mặt, làm tóc... thay vì gò bó trong một vài nghề cố định”, cô Thiệp gợi mở.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp lớn bắt đầu có chính sách tuyển dụng người khiếm thính hay các mô hình kinh doanh nhân văn như chuỗi Silent Coffee (Cà-phê tĩnh lặng) đang tạo ra không gian việc làm thực tế cho trẻ khiếm thính khi trưởng thành. Với những bước đi nhỏ này, có cơ sở để tin vào một hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện hơn từ chính sách, giáo dục đến sinh kế, giúp các em tự tin khẳng định mình trong xã hội.