“Tôi xin lấy tính mạng mình để bảo đảm…”
Tháng 12/1972, Hà Nội ngột ngạt bởi những tin tức căng thẳng từ bàn đàm phán Hiệp định Paris. Sự trì hoãn vô căn cứ từ phía Mỹ khiến miền bắc càng tin vào nhận định của Bác Hồ: “Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”. Quân và dân miền bắc luôn trong trạng thái cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao nhất. Lúc bấy giờ, tại trận địa Đồi Si (Đô Lương, Nghệ An), Đại đội Ra-đa 45 triển khai đội hình với nhiệm vụ cảnh giới vùng trời phía tây, bảo vệ Hà Nội trước sự xâm nhập bất ngờ của B-52.
19 giờ 21 phút ngày 18/12/1972. Màn hình ra-đa P12 trắng xóa. Đó không phải nhiễu bình thường mà là những dải nhiễu dày đặc, loại nhiễu mà chỉ những người từng nhiều lần đối mặt với B-52 mới nhận ra. Kinh nghiệm từ những lần quan sát B-52 bay tập đường dài và bay ném bom Quân khu 4, thành phố Hải Phòng suốt từ 1971-1972, mách bảo Đại đội trưởng Đinh Hữu Thuần: B-52 xuất hiện!
Ông lập tức lệnh cho đơn vị vào cấp báo động cao nhất, mở thêm máy ra-đa P35 phối kiểm. Giữa những dải nhiễu, bằng sự nhạy bén của người chỉ huy, ông đưa ra một nhận định có thể đánh đổi bằng cả sự nghiệp, thậm chí là sinh mệnh mình: “B-52 đang vào đánh Hà Nội!”. Ngay khi Đinh Hữu Thuần báo cáo về Sở chỉ huy, tiếng đầu dây bên kia dồn dập: “Anh lấy gì làm căn cứ mà dám báo B-52 vào đánh Hà Nội?”.
Trước thời khắc sinh tử của Thủ đô, không do dự, đồng chí Thuần quả quyết: “Tôi xin lấy tính mạng của mình để bảo đảm với Tổ quốc, chính xác B-52 đang bay vào đánh Hà Nội!”. Cúp máy. Hai phút sau. Một cuộc gọi khác. Giọng nói cứng rắn và nghiêm khắc hơn: “Anh có bảo đảm chắc chắn là B-52 đang vào Hà Nội không?”.
Tại thời điểm phát hiện, B-52 đang cách Hà Nội khoảng 350 km, tốc độ bay khoảng 600 km/h. Bằng tất cả sự quyết đoán của mình, Đinh Hữu Thuần dõng dạc: “Tôi xin lấy sinh mạng mình ra để bảo đảm và xin chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật nếu hoang báo”.
Nhờ sự quyết đoán ấy, Hà Nội đã có thêm 35 phút quý giá để kịp thời bước vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu. 35 phút, khoảng cách giữa sự bị động và chủ động, là tiền đề để những trận địa tên lửa SAM-2 vươn cao, quật ngã “thần tượng không lực Hoa Kỳ” ngay từ loạt đạn đầu, và tiếp tục hạ thêm rất nhiều B-52 trong 12 ngày đêm sau đó, góp phần làm nên một “Điện Biên Phủ trên không” cuối năm 1972 chấn động.
Sau chiến công ấy, cuộc đời người sĩ quan ra-đa Đinh Hữu Thuần lại là những nốt trầm đầy thử thách. Sinh ra trong cái đói quay quắt của những năm 1945, mẹ và chị gái mất sớm, tuổi thơ của ông là những ngày đi ở đợ, mót rau muống, đào rau má để sống qua ngày. 17 tuổi, ông trốn nhà đi bộ đội, coi quân ngũ là gia đình. Ông miệt mài học tập để cống hiến sức mình cho Tổ quốc.
Thế nhưng, có những giai đoạn, vì muôn vàn lý do khách quan và cả sự bộn bề của lịch sử, chiến công của ông bị vùi lấp dưới lớp bụi thời gian. Rời quân ngũ, nghỉ hưu với quân hàm trung tá, ông tiếp tục bươn chải đủ nghề để nuôi ba người con ăn học. Ngày con trai út ra đi vì bạo bệnh, người lính già can trường gần như ngã khuỵu. Biến cố ấy chính là giọt nước tràn ly, dẫn lối cho ông tìm đến Phật pháp, để tìm kiếm sự bình yên và giải thoát bản thân khỏi những sân hận vốn dễ nảy sinh sau bao biến cố.
Đổi chiến bào, khoác áo tu
Buổi sớm Sa Pa mờ sương. Mọi ồn ào, náo nhiệt của thiên đường du lịch đều dừng lại trước thềm vào Thiền viện Trúc lâm Đại Giác (phường Sa Pa, tỉnh Lào Cai). Bên trong thiền viện, không gian tĩnh lặng đến mức có thể nghe rõ tiếng lá khô vỡ giòn tan trên nền gạch, tiếng chổi tre loạt xoạt, từng nhịp đều đặn, kiên nhẫn. Ở tuổi 85, Đại đức Thích Chánh Tuệ vẫn ngày ngày nhẫn nại quét sân, tụng kinh và thuyết giảng về đạo thiền. Khách thập phương tìm đến đây để mưu cầu sự bình yên, đến vì tò mò, đến vì mệt mỏi, lại cũng có người đến vì mất phương hướng. Họ đều đặt niềm tin vào chốn cửa thiền, vào vị Đại đức từ bi mà không hề hay biết rằng, sư thầy Thích Chánh Tuệ đang giúp họ “giữ tâm” chính là người sĩ quan ra-đa Đinh Hữu Thuần từng dùng tính mạng mình để “giữ trời” Tổ quốc.
“Con nghe người ta nói, thầy suy nghĩ tiêu cực nên mới đi tu?”, tôi ngập ngừng bên tách trà nóng hổi. Thầy cười hiền, hướng tầm mắt vào khoảng không xa xăm bên cửa sổ: "Năm xưa, Phật hoàng Trần Nhân Tông sau hai lần đánh bại quân Nguyên Mông đã rời bỏ ngai vàng để đi tu. Con có biết, Ngài muốn tìm điều gì cao quý hơn ngai vàng không?”.
Thầy tiếp: “Vua Trần Nhân Tông ra trận để bảo vệ con dân, rồi Ngài đi tu thành Phật cũng là để phổ độ chúng sinh. Điều đó cao quý hơn bất kỳ ngôi báu nào”.
Rồi sư thầy chầm chậm nhấp một ngụm trà, nhìn thẳng vào mắt tôi: “Khi mình đã hoàn thành nghĩa vụ với Tổ quốc, với gia đình thì mình đi tìm một con đường khác để phụng sự. Đi tu không phải là trốn chạy, đó là cách trở về với chính bản ngã của mình.”
Năm 2015, cựu Trung tá Đinh Hữu Thuần được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân. Thời điểm đó, ông Đinh Hữu Thuần đã xuống tóc đi tu, lấy pháp danh là Thích Chánh Tuệ. Tâm nguyện của ông là xây dựng tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông tại Thiền viện Trúc lâm Đại giác tại tỉnh Lào Cai. Ông muốn nơi biên cương Tây Bắc này có một điểm tựa tâm linh, một cột mốc khẳng định chủ quyền và linh khí quốc gia.
Trong cái nhìn ấy, tôi không còn thấy bóng dáng của những quầng lửa B-52 rực cháy trên bầu trời năm cũ, cũng chẳng thấy vết hằn của những năm tháng thăng trầm, vất vả. Đôi mắt ấy giờ đây trong veo như mặt nước hồ lặng gió, chỉ còn lại sự thiện lương thuần khiết. Mọi vinh quang hay cay đắng đều đã được sư thầy nhẹ nhàng gói ghém lại, đặt xuống bên lề, để tâm mình thênh thang tựa mây trời, gió núi.
Tôi nhận ra rằng, bài học lớn nhất mà người sĩ quan ra-đa Đinh Hữu Thuần - Đại đức Thích Chánh Tuệ để lại cho thế hệ sau không chỉ là cách tìm mục tiêu B-52 trong nhiễu trắng, mà là cách tìm thấy sự bình yên trước những nhiễu loạn của cuộc đời. Một đời tận hiến, một đời hy sinh, để rồi cuối cùng đọng lại trong một chữ: BUÔNG. Đó không phải là từ bỏ, mà là tìm về với phẩm giá của chính mình.
Ngước nhìn chiếc chuông gió đang thả vào không gian những thanh âm thánh thót, tôi bất giác mỉm cười khi nhớ tới lời sư thầy lúc chia tay: “Chúng ta đều là đồng đội, đều là lính của cụ Giáp cả”.