Ông Séng là nghệ nhân duy nhất còn giữ nghề làm đàn lìn xìn ở Pà Vầy Sủ. Giới thiệu mấy câu bằng tiếng Nùng, ông cười móm mém, vui ra nét mặt.
Những cây đàn độc bản
Người Nùng ở miền núi phía bắc còn lưu giữ kho tàng phong tục tập quán, tín ngưỡng độc đáo. Ông Váng Vần Séng một thời đã đi khắp các sân khấu hội diễn văn nghệ dân tộc. Đàn lìn xìn có thân bằng gỗ, phần dây thanh gắn trên cần đàn trông giống với đàn nguyệt. Đàn lìn xìn thường chơi với các điệu hát lướn - điệu hát dân ca dùng khi đối đáp giao duyên, khi ăn lễ tạ nhà mới, mùa màng, hay đón trẻ mới sinh, đám cưới, đám hỏi…
Tới nhà ông Séng, cũng là lần đầu tiên chúng tôi biết đến cây đàn mang cái tên rất tượng thanh: Lìn xìn. Dù ông Séng nói rằng, bây giờ không mấy người còn chơi loại đàn này, thỉnh thoảng lắm mới thấy khách mua đàn từ Hoàng Su Phì, La Pán Tẩn tìm sang nhưng ông vẫn cần mẫn, tỉ mẩn, cứ có thời gian và sức khỏe là lại lấy dụng cụ, ván gỗ ra làm đàn.
Nguyên vật liệu gồm những tấm gỗ mỏng nhẹ, hộp vỏ lon sắt tây cũ, sợi cước làm dây. Qua bàn tay ông, chúng hợp thành nhạc cụ phát ra thanh âm khi trong trẻo, réo rắt, khi thong dong, khi lại vội vàng. Mỗi chiếc đàn của nghệ nhân Váng Vần Séng đều là độc bản, được ông cẩn thận tán những mảnh nhôm, mảnh bạc quanh thân đàn, mỗi bên đối xứng đặt một chiếc gương nhôm nhỏ. Rồi ông còn trang trí những sợi len nhiều mầu sắc. Khi nào phấn chấn, ông lấy bút màu ra trang trí quanh thân đàn, nên trong số đàn ông đang giữ, mỗi chiếc một màu sắc, một dáng vẻ, tinh thần riêng.
“Đàn lìn xìn có bốn dây, trước đây hay làm bằng lông đuôi ngựa, còn bây giờ thì có thể thay bằng dây cước, sợi thép nhỏ”, Thèn Hồng Quân, Bí thư Chi đoàn thôn 4, xã Pà Vầy Sủ dịch lại cho chúng tôi từ lời của ông Séng. Trông cấu tạo giản dị, nhưng không phải ai cũng chơi được loại đàn này, Quân thú nhận dù cũng là một thành viên tích cực trong đội văn nghệ xung kích xã, nhưng cậu thanh niên Nùng không biết chơi đàn lìn xìn, cũng chưa biết hát lướn. Còn ông Séng giải thích, không phải cầm đàn lên là chơi được nhạc mà còn phụ thuộc vào nhịp điệu, lời ca hát lướn của người hát. Cảm nhận tinh thần của làn điệu rồi người chơi đàn mới đồng điệu mà gảy lên những tiếng tròn đầy. Mắt ông lim dim, dường như đang nhớ lại khi xưa mới biết đến đàn lìn xìn, học hát lướn do cha ông và những người cao niên khác trong thôn truyền lại. “Ngày ấy, tự học, tự luyện thôi, nghe hát lướn rồi gảy theo dần là biết chơi”, nghệ nhân duy nhất còn lại trong vùng kể với chúng tôi rằng ông nay đã nhiều tuổi, con cháu cũng không còn mấy ai biết hát lướn, biết gẩy đàn lìn xìn. Những cây đàn được ông cất giữ, khi nào có khách tới tìm, ông lại lấy ra căn lại dây, chỉnh lại tiếng đàn.
Anh Hoàng Văn Nghị, nguyên là cán bộ văn hóa huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang cũ cho biết, trong lễ cưới của người Nùng có tục, khi đoàn nhà trai đến đón dâu, được bên nhà gái té nước vào chú rể. Bị té nước nhiều là điều may mắn. Trong đám cưới còn diễn ra cuộc hát lướn, chơi đàn lìn xìn giữa đại diện nhà trai và nhà gái, những lời văn hoa, ví von như trình bày đồ sính lễ, của hồi môn, cảm ơn họ hàng, làng xóm đến dự đám cưới, chúc mừng cho cô dâu, chú rể trăm năm hạnh phúc.
Hát lướn, một không gian tinh tế, ân tình
Suốt nhiều năm làm công tác văn hóa và tham gia các hội diễn, hội thi văn nghệ dân tộc, anh Hoàng Văn Nghị từng tiếp xúc với nhiều nghệ nhân hát lướn, chơi đàn lìn xìn. Nghệ nhân biết làm, biết chơi đàn ngày càng cao tuổi, ngày càng ít, những người như ông Váng Vần Séng lại càng hiếm. Anh Nghị cho biết thêm, đồng bào Nùng cũng có những nhạc khí như tính tẩu, thanh la…, thường dùng trong các nghi thức tín ngưỡng riêng…
Thèn Hồng Quân giới thiệu mẹ của em - nghệ nhân hát lướn Cháng Thị Vẻ. Bà đang một tay xâu kim, một tay luồn chỉ, ngồi bên chiếc máy may ngân nga điệu hát “lướn tâng cải” (Hát về người yêu cũ). Thèn Hồng Quân dịch và nói rằng bài lướn “Tình hằm Shuồng” mà bà Vẻ đang hát, là điệu hát giao duyên tối ngày thứ hai, lời ca cũng do bà tự sáng tác. Nội dung là "Vì em thích anh từ lâu rồi nhưng đến bây giờ anh thích em thì em không còn thích anh nữa!”, cậu thanh niên khúc khích cười và giải thích.
Còn với bà Cháng Thị Vẻ, những điệu lướn tự nhiên mà bà bật ra và ghi lại trong một buổi tối rất đỗi bình thường, khi đang ngồi may vá nhưng được cất lên chân thành, trau chuốt. “Nhiều khi lời hát còn là lời xe kết, là những trao đổi tâm tình, giãi bày tâm sự”, bà nói, và giải thích thêm: “Người Nùng không chấp nhận sự sỗ sàng, vụng về, lộ liễu trong tình cảm. Khi cất lên lời ca “tôi - mình”, “riêng - chung”, nam nữ vừa đối giọng, đối lời, đối cả ý”.
Hát đối đáp giao duyên là hình thức sinh hoạt ca hát dân gian phổ biến. Với cộng đồng người Nùng, hát lướn còn phản ánh cuộc sống nông nghiệp, làm thủ công bận rộn, vất vả nhưng lạc quan. Những câu hát giao duyên hoặc hát trong các dịp mừng nhà mới, dịp sum họp gia đình… tạo nên không khí phấn chấn. Theo anh Hoàng Văn Nghị, cũng như những thể loại đối đáp khác, hát lướn giao duyên đòi hỏi khả năng đối - đáp nhanh nhạy. Người hát không chỉ thuộc sẵn một số làn điệu và văn liệu truyền thống, những câu có tính chất quy ước để mở bài, chuyển tiếp và kết thúc… để vận dụng nhanh, phù hợp với nội dung, diễn tiến của buổi hát, mà còn phải biết sáng tạo, ứng biến. “Khi đối đáp về tình yêu, lời ca vừa cụ thể vừa là lời tâm tình cá nhân, là những thầm kín riêng tư, lại vừa khái quát để có thể hát công khai trước tập thể để mọi người đồng cảm, đồng tình. Lời bài hát sâu sắc nhưng kín đáo, ý nhị, duyên dáng, lại càng làm nên sự độc đáo của loại hình dân ca này”, anh chia sẻ.
Chúng tôi đến thăm bất ngờ, ông Séng bảo sáng còn hơi mệt, vậy mà đến khi ôm đàn vào lòng, ông bỗng chốc như con người khác, sống động trở lại. Đôi tay ông run run, nâu sần hằn bóng thời gian nhưng tiếng đàn tự nhiên, linh động vô cùng. Từng ngón tay rung trên dây đàn như đã lâu lại vừa tìm được nguồn vui.