Bởi, mới chỉ hơn chục năm về trước, người dân nơi đây còn đang phải sống trong đói nghèo, cơ cực. Và, trong sự đổi thay kỳ diệu ấy, tất cả dường như đều thấm những giọt mồ hôi của người đảng viên bình dị, có mặt ở nơi này như một tiền định đổi thay, trong phong trào di dân lòng hồ thủy điện Sơn La những năm đầu thế kỷ 21 đầy biến động.
1. Để khai thác tiềm năng dòng nước sông Đà, mấy chục năm trước, một kế hoạch xây dựng những bậc thang thủy điện trên dòng sông oai linh này đã được chuẩn bị. Trong thời gian vỏn vẹn có mấy năm trời, hơn 11.000 hộ dân của tỉnh Sơn La phải bỏ lại quê hương, di dời đến những khu định cư mới, trong đó, chủ yếu là người dân tộc thiểu số.
Cho đến những năm tháng này, khi thời gian đã đủ độ lùi nhìn lại, vẫn còn thấy việc di dân lòng hồ ngày đó là nhiệm vụ hết sức to lớn. Chính quyền nhiều cấp của tỉnh Sơn La đã phải làm hàng núi công việc, để yên dân với khẩu hiệu: Nơi ở mới phải tốt hơn nơi ở cũ. Bản Nặm Dên, xã Chiềng Sơn, huyện Mộc Châu cũ của tỉnh Sơn La là một trong hàng nghìn điểm tái định cư của cư dân lòng hồ thủy điện Sơn La ngày ấy.
2. "Ăn cơm mới, nói chuyện cũ!”. Còn nhớ, mùa đông năm 2005, tôi đã có mặt tại nơi này trong một chuyến điền dã. Hiện ra trước mắt chúng tôi là một bản người H'Mông với vài chục nóc nhà lụp sụp lúc ẩn lúc hiện trong làn mây mùa đông từ biên giới đang ào ạt dồn về.
Trong cái lạnh tái tê, nhìn đám trẻ trong bản đang quấn lấy nhau mà xa xót. Hầu hết các em không giày không dép, nhiều em còn không mặc cả quần, trên mình phất phơ mảnh áo khi nhiệt độ ngoài trời đang xuống tới dưới 10oC. Vào bất cứ nhà nào cũng thấy những đống lửa đang âm ỉ cháy. Mấy cụ già nằm vùi trong đám chăn cáu bẩn. Có một người đàn bà không dễ đoán tuổi đang ngồi tẽ từng hạt ngô đỏ vào một cái xoong chuẩn bị bữa chiều. Bà già cho biết, ngô hạt nấu kỹ là món ăn thường nhật cho gia đình 7 người. Và, hầu hết các nhà trong bản đều lấy sắn, ngô làm bữa ăn chính cho mùa giáp hạt. Tiếp xúc với một thanh niên ra dáng khôi ngô nhất bản, biết anh là phạm nhân mãn hạn tù được trả về địa phương mới vài ngày trước đó. Chàng thanh niên cho hay, Hin Pén Chiềng Sơn chỉ cách biên giới Việt-Lào gần 5 cây số và nơi này đang là tâm điểm của tệ nạn ma túy. Một tỷ lệ kinh hoàng người dân trong bản nghiện và liên quan đến tệ nạn ma túy. Thanh niên nghiện, người già nghiện, đàn ông nghiện, đàn bà nghiện. Người già nhất nghiện ma túy là một cụ bà đã ở tuổi 80. Người trẻ nhất trong bản nghiện ma túy là một cậu bé chưa đầy 8 tuổi. Ngày ấy, xã Chiềng Sơn có tới 520 người nghiện. Ma túy cùng căn bệnh thế kỷ HIV và những hủ tục lạc hậu như một trận bão quét qua vùng cao này với rất nhiều hệ lụy.
Rồi tất cả thay đổi. Bắt đầu từ chủ trương của Đảng và Nhà nước, đầu tư nhiều mặt và có trọng điểm cho vùng nghèo hơn, vùng khó khăn hơn. Đặc biệt là vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhất là khi nơi đây trở thành một trong những điểm tái định cư của những hộ dân đến từ lòng hồ thủy điện Sơn La.
3. Đến những ngày này, tất cả đã khác xa những gì mà tôi được thấy của hai mươi năm về trước. Nằm cạnh bản H'Mông Hin Pén xưa là một bản người Thái mang tên Nặm Dên với mấy chục nóc nhà trải dài trên những sườn đồi đầy hoa thơm quả ngọt. Hin Pén, Nặm Dên hôm nay của xã Chiềng Sơn đã được công nhận là nông thôn mới. Con đường khổ ải dẫn vào bản đã được rải nhựa. Hệ thống nước sạch nông thôn đưa nước về tận bếp mỗi nhà. Không một gia đình nào trong bản còn gặp cảnh giáp hạt, đứt bữa như xưa. Nhà nhà đều có những vật dụng hiện đại như ti-vi, tủ lạnh. Không ít gia đình sắm được cả ô-tô, xe máy, điều hòa nhiệt độ. Tất cả trẻ em trong độ tuổi đều được đến trường. Học sinh mẫu giáo, tiểu học được học hành ngay tại ngôi trường khang trang trong bản. Đã có 3 học sinh Nặm Dên, Hin Pén đỗ và đang theo học tại các trường đại học.
Đặc biệt hơn, cả hai bản người dân tộc thiểu số nơi đây hôm nay, không còn một người nào mắc nghiện. Hàng chục người nghiện, người từng bị xử lý hình sự do liên quan tệ nạn buôn bán ma túy hết hạn quản thúc trở về đều đã bỏ được nghiện, tái hòa nhập cộng đồng. Sinh hoạt cộng đồng diễn ra hằng tuần tại nhà văn hóa trong bản. Mỗi gia đình đều có ruộng nước, có nương rẫy, được nhận diện tích rừng để quản lý và khai thác. Sản lượng lúa, màu, cà-phê, mận, hạt cải, xoài, nhãn… làm thay đổi cả thói quen canh tác lạc hậu nhiều đời và đem đến nguồn thu bền vững cho mỗi gia đình.
Những thay đổi tích cực trên, trước hết, đến từ chủ trương đầu tư đúng đắn của Nhà nước. Điều kỳ diệu trên, hiển nhiên, đến từ nỗ lực vươn lên thoát nghèo của cả một cộng đồng. Song những thay đổi trên còn có sự đóng góp tâm huyết của một đảng viên người dân tộc thiểu số, một cựu chiến binh áo chàm túi vải được tôi luyện trong giai đoạn đầy thử thách của vùng cao Tây Bắc. Người đảng viên ấy là Lù Văn Thủy, sinh ra ở tận nơi thâm sơn cùng cốc của xã Mường Trai, huyện Mường La cũ của tỉnh Sơn La. Quê ông Thủy bây giờ đã nằm thẳm sâu dưới lòng hồ thủy điện Sơn La, công trình thủy điện vào hạng lớn nhất vùng Đông Nam Á..
4. Lù Văn Thủy sinh ngày 7/2/1962 trong một gia đình người dân tộc Thái đen tại xã Mường Trai, huyện Mường La, tỉnh Sơn la cũ. Sau khi học xong cấp 1, cấp 2 tại xã, Thủy vượt gần 40 km ra huyện học khóa đầu tiên của Trường cấp 3 Mường La. Năm 1984, Thủy xung phong đi bộ đội, thuộc quân số Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 754, rồi được điều động tăng cường cho mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang. Tháng 5/1987, Thủy xuất ngũ về quê làm Trưởng ban Văn hóa xã Mường Trai. Năm 2000, Thủy đảm nhận chức vụ Chủ tịch UBND xã. Đó cũng là những năm, kế hoạch di dân giải phóng lòng hồ thủy điện Sơn La khởi động.
Sau khi tham dự hội nghị tiếp thu kế hoạch từ các cấp khác nhau, ông Thủy biết, để kế hoạch giải phóng lòng hồ thành công, trước hết, phải đạt được sự đồng thuận của người dân. Để mỗi người dân, mỗi gia đình có thể dời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, rời bỏ ruộng vườn, nhà cửa, bỏ lại mồ mả cha ông ra đi đến một nơi xa lạ là điều không hề dễ dàng. Trên cương vị Chủ tịch xã, ông Thủy đã yêu cầu, không để một đảng viên nào, một đoàn thể nào đứng ngoài cuộc. Ngoài những buổi họp phổ biến kế hoạch triển khai công việc từ xã đến bản, ông Thủy cùng cán bộ trong ban chỉ đạo đã không chỉ một lần đến từng dòng họ, từng bản làng mà còn có mặt tại mỗi gia đình của xã Mường Trai. Vì vậy, Mường Trai ngày đó, có thể nói, là một trong số không nhiều điểm thực hiện tốt nhất công việc triển khai kế hoạch di dân giải phóng lòng hồ sông Đà. Bởi vì, như người ta thường nói: “Cán bộ nào, phong trào đó!”.
Là thành viên Ban Di dân của huyện, của tỉnh, trong mấy năm lăn lộn với phong trào, ông Thủy đã có mặt ở hầu hết các điểm được chọn làm nơi đưa dân đến của cả tỉnh Sơn La. Theo kế hoạch, bản của Lù Văn Thủy cũng nằm trong diện 100% các gia đình phải di dời. Ông Thủy nhớ, ban đầu, rất nhiều gia đình không nhất trí chọn Nặm Dên làm nơi định cư. Ông đã thuyết phục người dân trong bản chọn Nặm Dên vì nơi này có nguồn nước và có quỹ đất đủ cho phát triển lâu dài.
Ông thuyết phục bà con chọn Nặm Dên còn vì cái lý sẽ rất khó khăn cho Nhà nước, nếu mỗi người dân trong diện tái định cư đều đòi thỏa mãn tất cả mọi yêu cầu đặt ra. Ông nói với bà con: "Có đất, có nước, có quyết tâm là sẽ có tất cả!”.
Vừa cùng bà con cắm tạm những căn lều trên vùng đất mới, ông Thủy đã phải đảm nhận vai trò Phó Bí thư Đảng ủy xã Chiềng Sơn. Ngày đó, nhiều người cho rằng, sự có mặt của ông Thủy trong ban lãnh đạo Đảng ủy xã là vì… cơ cấu. Nhưng rồi ngay khóa sau đó, bằng vào kết quả công tác của mình, ông Thủy được giao đảm nhận trọng trách Bí thư Đảng ủy xã Chiềng Sơn cho đến tận ngày được nhận quyết định nghỉ hưu.
Đảng ủy Chiềng Sơn những năm ông Thủy mới chuyển về có tới 22 chi bộ với 378 đảng viên. Chiềng Sơn từng có một nông trường quốc doanh, lại đã có thời gian khá dài là một thị trấn với số đông đảng viên không phải là người dân tộc thiểu số. Chất lượng công việc đã làm nên uy tín của ông Thủy trong tổ chức đảng và cộng đồng. Những năm này, ông Thủy còn đảm nhận nhiệm vụ Trưởng ban 3 xã Chiềng Sơn - Ban Chỉ đạo Phòng chống ma túy - một nhiệm vụ cấp thiết của vùng trọng điểm này.
Xã Chiềng Sơn có 18 km với bốn cột mốc biên giới quốc gia. Đỉnh Pha Luông chất ngất bốn mùa mây phủ nằm ngay trên đường biên giới Việt - Lào. Nhìn mây núi Pha Luông lại nhớ câu thơ của nhà thơ Quang Dũng viết cách đây đã tròn 80 năm: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”.
Vâng! Vậy là trong biển mây mù khơi ấy, ông Thủy đã cùng bà con Nặm Dên, Hin Pén vững tay lái, đưa con thuyền làng bản vượt qua gian khó đến với bờ bến no lành!
Trong Hội nghị tổng kết công tác di dân giải phóng lòng hồ thủy điện Sơn La, tỉnh Sơn La đã tặng 2 Huân chương Lao động hạng 3 cho hai tập thể và một cá nhân có nhiều thành tích. Lù Văn Thủy là cá nhân duy nhất được nhận vinh dự trên.