Ông giáo Ðộ - Truyện ngắn của ÐỖ NHẬT MINH

Ðó là những ngày bắt đầu vào tháng nghỉ hè của giáo viên. Tôi lững thững dắt xe máy tới Trường tiểu học Ða Sơn nằm trên quả đồi trơ trọi giữa cánh đồng bậc thang cong queo, đứt quãng có cái cổng làm bằng mấy cây tre khô cong tớn, đi thẳng vào căn nhà ngói nằm sâu trong sân trường mà tôi đoán là văn phòng. Một người đàn ông ngồi bệt ở bậc tam cấp, mặc bộ quần áo bà ba bạc phếch, vai vắt khăn mặt bông xám xịt, đang cúi đầu không hiểu nhìn gì đó ở đám cỏ trước mặt hay là đang suy tư điều gì vậy. Bên cạnh ông ta là chiếc điếu cày tre nhẵn thín, nâu bóng, ghếch chếch bên mé thềm, chỉ muốn đổ kềnh.
Ông giáo Ðộ - Truyện ngắn của ÐỖ NHẬT MINH

- Chào bác. Xin lỗi bác, cho tôi hỏi anh Cương hiệu trưởng có ở đây không ạ?

Ông ta ngẩng lên, mặt đỏ vang, giọng đầy hách dịch:

- Anh hỏi gì?

- Dạ, e....m... - Tôi thay đổi cách xưng hô. Quả là ông ta già hơn lúc tôi thoạt nhìn - Em có việc ạ.

Ông ta lấy khăn chùi mắt:

- Anh ấy vẫn nghỉ ở nhà. Nếu là việc công thì cứ trao đổi với tôi.

Tôi nghi ngại nhìn ông ta. Ðích thị là ông này đang say rượu.

- Em là phóng viên báo tỉnh, muốn gặp anh hiệu trưởng có chút việc. Dạ, bác là...

- Tôi là giáo viên trực trường!

Tôi sửng sốt nhìn. Giời ạ, ông này là giáo viên? Tôi cứ tưởng ông là người dân trong xóm đến ngồi nghỉ ở đây. Dẫu đã biết ở xã rẻo cao đời sống khó khăn nhưng không ngờ vẫn còn những giáo viên cũ mèm như thế này.

- Thế thì hay quá - Tôi gượng gạo cười, nói lấy lệ.

- Hiện giờ trường không có ai ở đây sất! - Ông đứng dậy - Bây giờ vẫn là nghỉ hè. À, anh cho tôi xem giấy tờ.

Ông thọc tay vào túi lấy ra chiếc kính, hết nhìn thẻ nhà báo lại nhìn vào tôi rồi thủng thẳng hạ giọng:

- Anh về nhà tôi nghỉ, ăn cơm. Mai, tôi sẽ nhắn anh Cương tới. Nào, đi thôi - Ông cầm chiếc điếu cày, rảo bước.

Tôi miễn cưỡng đi theo ông. Ðã xế chiều rồi. Bây giờ có quay ra huyện lỵ cũng không được vì đường xấu, lắm đèo dốc. Tôi rút máy điện thoại gọi Cương nhưng sực nhớ ra là chỗ này thuộc vùng không phủ sóng. Anh chàng này đến tệ. Mới hôm kia gặp tôi tại phòng giáo dục huyện, anh ta thiết tha mời đến để trước là viết về trường tiên tiến của mình sau nữa dẫn tôi tới thăm khu du lịch sinh thái Khe Tán nơi người dân vừa phát hiện ra hang Gió. Cương hẹn tôi ngày giờ cẩn thận, lại thêm câu nói dõng dạc: "Nhớ, chiều thứ bảy tại trường. Không được lỡ hẹn đấy", lại thêm bàn tay siết chặt lắc lắc.

- Bác tên là gì nhỉ? - Tôi vui vẻ hỏi.

- Tôi ấy à? - Ông ngoảnh sang tôi - Ðộ. Nguyễn Văn Ðộ. Còn anh?

- Em là Giang Kế Nhân.

- Hừm. Tên kêu ghê. Nhà báo có khác - Ông nhìn tôi chẳng lấy gì làm vui.

- Bác ơi, nhà anh Cương có xa không?

- Ở tận xóm Ðầu Suối. Ấy à, phải đi năm, sáu cây số đấy.

Sau câu trả lời ấy, ông im lặng suốt đoạn đường. Trời đã sẩm tối. Ở vùng núi bóng đêm hình như đến sớm hơn và có vẻ bí hiểm.

***

Nhà ông Ðộ tường trình lợp ngói tây, và chỉ có mỗi vợ chồng ông. Thấy tôi chú ý đám trẻ ngồi im phăng phắc ở trong buồng với đèn dây sáng choang, ông Ðộ khẽ bảo tôi: "Tôi phụ đạo thêm mấy đứa học trò". Tôi nghĩ bụng: "Lại dạy thêm lấy tiền. Cách thức này đã lan tới cả miền núi. Khiếp thật". Vợ ông, già và gầy yếu hơn chồng, có vẻ hờ hững với việc tôi đến đây.

- Nấu thêm cơm đi - Ông Ðộ oang oang ở bậc cửa - Có anh nhà báo.

Vừa ngồi xuống ghế, ông đã với tay lên ban thờ lấy một chai rượu trắng, rót ra mỗi người một chén. Tôi chối từ.

- Không được - Giọng ông lạnh lùng - Không uống nhiều thì uống ít. Một hớp cũng được. Ấy là tôi quý mến anh mới mời.

Nể quá, tôi uống một hớp. Rượu trong, êm nhưng nặng.

- Tôi nấu đấy - Ông hồ hởi - Chẳng gì bằng mình làm.

Rồi cũng chẳng để cho tôi phụ họa về thứ rượu ngon này, ông sôi nổi kể luôn về cuộc đời của mình, giọng phấn chấn đến lạ. Vậy ra ông dạy học từ năm 1968 khi tốt nghiệp sư phạm sơ cấp. Trừ chục năm dạy ở mấy xã ven huyện lỵ, ông toàn dạy ở quê - tức là Ða Sơn này. Quê gốc ông ở tận Thái Bình, theo cha mẹ lên đây từ năm 1963. Ða Sơn có tám xóm, chủ yếu là bà con người Tày, Dao, Nùng. Xóm ông xen kẽ giữa người Kinh với người Nùng. Hẳn nào, trong khi nói chuyện, ông hay dùng từ của người bản địa.

Một chú bé chừng chín, mười tuổi, ăn vận quần áo lếch thếch, rụt rè bước ra lí nhí chào tôi rồi quay sang ông Ðộ với cái giọng ấp úng:

- Thưa thầy, chúng em viết xong rồi ạ.

- Ðược. Cứ vào đi, chờ thầy.

Ông nói thế nhưng lại đứng dậy vội vã bước vào trong buồng. Các em nhao nhao đòi thầy xem vở của mình trước.

- Có im đi không nào. Thật xấu hổ với khách.

- Ai đấy ạ?

- Một nhà báo nổi tiếng đấy.

- Thế nhà báo là gì ạ?

Ông Ðộ "hừm" một tiếng.

- Này, vở của em đâu? Vẫn viết sai chữ a hoa rồi. Viết thế này cơ mà. Chú ý nhìn thầy viết trên bảng. Rõ chưa nào? Nụ viết lại đi. Chầm chậm thôi. Ðúng rồi. Em giỏi lắm. Các em viết tập trung cả chứ? Từ lúc thầy ra trường, có em nào chạy đi chơi không? Tất cả thu vở lại, mai thầy chấm. Thôi, hôm nay nghỉ sớm.

Tốp học trò trai gái ùa ra tíu tít chào tôi rồi chạy thình thịch ra cổng. Hình như có em nào đó vít cây gì đó ở cổng.

- Ðồ quỷ sứ ạ - Từ trong bếp, bà Ðộ quát lên.

- Ơ hay cái bà này. Có thế mà cũng phải gắt gỏng với chúng.

Bà vợ ông cằn nhằn điều gì ấy, tôi nghe không rõ.

 "Kể ra cũng khổ - Ông Ðộ lẳng lặng ngồi xuống ghế - Tối nào chúng không vít mấy cành bưởi, cành khế thì cũng trêu mấy con chó hàng xóm. Năm năm như thế rồi. Anh tính không dạy thêm cho chúng thứ bảy, chủ nhật thì áy náy lắm. Tôi chỉ dạy thêm cho chúng mỗi môn tập viết thôi. Ấy à, chữ viết chúng nó trông sợ quá". Ông thở dài rồi với tay lấy chiếc điếu cày. Ông nạp thuốc vào nõ điếu rồi run run đưa cái đóm vào ngọn lửa đèn dầu. Lửa đã bén vào thanh đóm. Ông vội rút ra.

"Sang năm, tôi không dạy thêm nữa. Dạy làm gì. Vô tích sự". Ông châm thuốc, rít một hơi dài, phả khói ra trước mặt. "Tôi dạy để làm gì nhỉ? Có ai ủng hộ tôi đâu. À, có. Họ ủng hộ ở cửa miệng, còn chẳng ai dúng tay làm. Vất vả mà. Họ không làm mà vẫn có tiếng là trường vùng cao có phong trào giữ vở sạch, viết chữ đẹp. Hà .... hà... Ðã có tôi rồi mà. Ông rót rượu ra chén - Anh không uống à? Thế thì mình tôi vậy...".

- Ðược cơm chưa bà? Nhanh tay lên nhé.

- Cũng còn sớm bác ạ. Ông Ðộ nhếch mép cười - Cái cười như muốn bảo: "Thôi anh đừng có giả vờ giả vịt nữa. Bụng cũng đói sôi rồi".

"Tôi dạy lớp ba. Ở lớp dưới, chẳng ai ngó ngàng tới chuyện uốn nắn học trò viết chữ cho đúng và cho đẹp. Vậy là tôi phải dạy từ đầu. Gian truân lắm, anh ạ. Phải ngồi kèm từng em để nắn lại từng chữ. Hàng tháng, tôi bỏ tiền ra để mua một hai thứ nho nhỏ, ví dụ cuộn chỉ mầu, mấy cuốn vở, để trao cho em nào tiến bộ nhất. Ở đây xa chợ, xa huyện lỵ, mà đời sống bà con còn khó khăn lắm. Ấy à, đến cái điện vẫn chưa có. Nghe nói sang năm có dự án gì ấy, Ða Sơn với Ða Phúc mới có điện. Tôi đang nói gì nhỉ? À dạy chữ viết cho các em. Rèn giũa chúng là vậy nhưng tới lớp trên lại hỏng hết. Các vị bảo chỉ chú trọng học lực chứ không phải chữ viết. Nhưng làm gì có học sinh giỏi. Mỗi lớp chỉ có hai lăm ba mươi đứa mà có tới quá nửa là yếu kém...".

Ông Ðộ buồn bã nhìn tôi.

"Ở trường, người ta tấm tắc khen tôi viết chữ đẹp, nào chữ y như mẫu chữ của Bộ rồi lại là hết ý, miễn chê, xưa nay hiếm. Và cũng chỉ vậy thôi. Không một giáo viên nào theo cách dạy tỉ mỉ, cẩn thận của tôi. Thế mà - ông lắc đầu, giọng bực tức - mấy năm gần đây trường này lại nổi tiếng ở trong huyện về phong trào giữ vở sạch, viết chữ đẹp. Ấy à, họ làm thế này ai chẳng tin. Báo cáo thì thổi phồng lên nhé - những bảy mươi phần trăm học trò giữ vở sạch, chữ đẹp. Ở hội nghị, họ bê cả chồng vở của học trò tôi ra, bóc nhãn vở để ghi tên lớp khác. Anh hiệu trưởng chúng tôi còn có sáng kiến mang ra những quyển vở của học trò lớp tôi đã học cách đây mấy năm để thay tên, thay lớp, trong đó có cả những đứa được giải ở huyện, ở tỉnh. Phòng Giáo dục hàng mấy năm mới có cán bộ đến kiểm tra. Gọi là kiểm tra nhưng chỉ rặt nghe báo cáo rồi vãn cảnh và đánh chén thú rừng. Anh hiệu trưởng tôi giỏi khoa mồm mép và săn lùng lâm sản để biếu tặng lãnh đạo phòng, chả thế dạy và học có ra gì mà mấy năm liền đều là trường tiên tiến. Anh là nhà báo đi nhiều, có thấy trường nào như trường đây không, có phòng giáo dục nào như phòng giáo dục huyện đây không?

(Còn nữa)