Những ngã ba thương nhớ
Hình như, chẳng con đường nào tới thượng nguồn các con sông dễ dàng. Đường biên giới có mấy cung đường “khủng”, có khả năng làm mềm ý chí bất kỳ tay lái lụa nào, thì hầu hết đều là những con đường đến với các ngã ba sông. Từ những đoạn đá hộc đá sỏi Dền Thàng - Y Tý (Bát Xát, Lào Cai) sang nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt, đến cung đường dài dằng dặc miên man đá Mường Tè (Lai Châu) vào nơi ngã ba sông Đà, hay cắm đầu xe vào đá, luồn rừng băng suối mà tiến như đến nơi sông Mã (Thanh Hóa) trở lại Việt Nam, rồi ác mộng của những chiếc xe như vào Săm Pun, Xín Cái phía đầu sông Nho Quế (Hà Giang)...
Chúng tôi qua Lũng Pô (Bát Xát, Lào Cai) đúng ngày cuối cùng của năm 2009. Đi từ Lào Cai qua Dền Thàng - Y Tý - A Lù, đến Lũng Pô thì đứa nào đứa nấy mệt phờ. Đường xấu, xe máy cứ bươi hai chân mà sốc qua những tảng đá hộc. Hai năm sau trở lại, đường Y Tý - Lũng Pô vẫn xứng đáng là đường “khủng”, vẫn trong hành trình đang hoàn thiện của tuyến tuần tra biên giới. Lũng Pô là “nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt”, nơi nhạc sĩ Thuận Yến từng viết trong nhạc phẩm nổi tiếng Gửi em ở cuối sông Hồng. Từ phía ngoài đường tuần tra biên giới, xe máy cũng ngoằn ngoèo mỏi tay mới vào được căn nhà bát giác của Trạm biên phòng Lũng Pô. Cái mầu xanh ngút mắt của mấy rừng chuối, của lúa, của rừng, chẳng thể làm chúng tôi quên cảm giác chạy xe qua những ổ voi ổ gà. Ngã ba sông Hồng, biên giới tự nhiên Việt - Trung, kỳ lạ bởi dòng chảy nửa đỏ nửa xanh chia đôi con sông.
Một thượng nguồn phía khác, cũng nhiều huyền thoại không kém, là nơi chào đón sông Đà vào Việt Nam. Để vào mốc 17, cột mốc đánh dấu ngã ba sông Đà “sà” vào đất Việt, phải di chuyển qua 60 cây số “phát khóc” vào Mường Tè - Pắc Ma - ngã ba Nậm Lằn - Trạm biên phòng Kẻng Mỏ. Mấy cột mốc phía thượng nguồn sông Đà nằm trên đường xuyên rừng thượng nguồn. Trạm biên phòng Kẻng Mỏ nằm cách biệt với ngã ba Nậm Lằn hơn hai mươi cây số. Chỉ một quãng hai mươi cây, chúng tôi phải mất gần hai tiếng vượt qua con đường không giống đường ấy. Cứ đi trong nỗi phập phồng, phía dưới là sông Đà cứ ngạo nghễ, bên kia là núi đá nhô ra thách thức, dưới bánh xe, đường nát tơi tả. Một anh lính mới 30 tuổi, kể mỗi lần về thăm vợ, đi hết 200 cây số về TP Lai Châu, đến cửa nhà bụi bám kín người, vợ bảo, “trông như yêu quái phương nào”. Thiếu úy Đinh Xuân Quang, Trạm kiểm soát biên phòng Ka Lăng, bảo vài năm trước, phương tiện duy nhất anh em tuần tra cột mốc là xuồng, vì chưa có đường vào rừng. Xuồng qua những ghềnh đá dữ dội, thấy mình cũng chẳng khác người lái đò sông Đà năm xưa nắm lấy bờm sóng mà tiến.
Sông Mã, con sông hoang dại rong chơi vào Việt Nam từ phía núi Tuần Giáo (Điện Biên), rồi qua Sơn La, dạo chơi nước bạn Lào, rồi lại lưu luyến đất Việt mà “gầm lên khúc độc hành” phía cửa khẩu Tén Tằn (Mường Lát, Thanh Hóa). Sông Mã trở lại Việt Nam, rồi còn đỏng đảnh chia đôi, một bên đổ vào suối Mường Lát, một bên chảy về hội với sông Chu. Để vào được Mường Lát, dù là từ Thanh Hóa qua Hồi Xuân - Pù Nhi - Nà Ham, hay từ Mai Châu - Co Lương (Hòa Bình) xuyên rừng qua Vạn Mai - Trung Lý - Mường Lý đều là những nỗi kinh hoàng. Ô-tô không xuyên được rừng qua Vạn Mai - Trung Lý. Chỉ có những bước chân bám chặt qua đá, những tiếng gõ móng ngựa của đồng bào người Mông ra trung tâm huyện.
Dòng sâu dữ dội
Chả biết làm sao, mà dòng sông nào cũng lãng mạn dịu dàng khi về đồng bằng, lãng mạn dịu dàng cả trong bài hát. Thế nhưng sông Hồng và sông Đà, được xếp vào hàng những con sông hung dữ nhất trong số gần 400 con sông nước Việt.
Trạm biên phòng Lũng Pô nằm trên một mô đất cao. Từ chỗ cột mốc 92, nhìn ra ngã ba sông Hồng, mùa lũ về, thấy rất rõ sự phân đôi hai dòng. Mấy cuộc gặp gỡ của chúng tôi với anh em Trạm biên phòng Lũng Pô đều ngắn ngủi. Cuối năm 2009 đến Lũng Pô, chúng tôi chỉ kịp bắt tay chào hỏi các anh trước khi các anh bắt đầu nhiệm vụ tuần tra. Một năm sau, nghe tin một chiến sĩ ở Lũng Pô hy sinh trong đêm 17-2-2010, ngã xuống ngay giữa lòng con sông mẹ, chúng tôi bàng hoàng, tự hỏi, “chúng ta đã gặp nhau chưa”. Anh là ai trong những gương mặt đã bắt tay chúng tôi rất chặt khi đến cột mốc 92? Một năm sau nữa chúng tôi trở lại Lũng Pô, giữa mùa lúa vàng mướt, đi qua những thửa ruộng bậc thang A Lù, lúa ôm trọn cả mình, bao bọc mình giữa vùng đồi núi. Lũng Pô giờ khác hẳn. Trung úy Việt lần này biết chúng tôi đến, phóng xe máy chạy từ thành phố Lào Cai về, mất nửa ngày phép, để đón chúng tôi dọc đường. Anh Việt về Lũng Pô từ Đồn biên phòng Hà Khẩu. Từ đồn biên phòng thành phố, đến vùng ngã ba sông heo hút này, là một sự khác biệt rõ rệt. Nhưng cái khác với nhiều người, là một nhiệm vụ hiển nhiên với người lính. Mỗi khi có phép, tranh thủ phóng xe máy qua gần bảy mươi cây số, cứ men đường xuôi dòng sông Hồng về thăm vợ con ở thành phố Lào Cai, rồi lại tất tả trở lại đồn. Thế rồi cũng gần ba năm, quen với mọi hành trình xuôi dòng, dù mỗi bận về nhà cũng mất chừng bốn tiếng nếu phóng nhanh, Việt nheo mắt, “Chỗ này chắc nổi tiếng vì bài hát”. “Ở trên ấy mùa này con nước”, cuối năm Việt và đồng đội chắc đang “dặm rét”. Những con nước mùa này chẳng hiền lành nơi ngã ba biên giới bao giờ.
Ngã ba sông Đà ngạo nghễ “độc bắc lưu”, mùa mưa tháng 7, dòng cuộn đục. Con sông mà ngọn bút tài hoa bậc nhất như Nguyễn Tuân từng miêu tả, “Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xóa cả một chân trời đá”. Cứ nhìn Đà Giang ào ào qua đá, thì mường tượng ra thạch trận mà cụ Nguyễn ví von “đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông”. Sông Đà phía này gọi là Nậm Tè. Đường vào hun hút, vẫn thấy mấy con dũi tung tăng qua lại, hếch mõm nhìn người đầy kiêu ngạo. Ngay cả lúc dẫn chúng tôi đi thăm cột mốc, khi nói chuyện với chúng tôi, ánh mắt Thiếu úy Quang vẫn thường trực nhìn về phía những con thuyền ở ngã ba sông. Đấy là phản xạ của người lâu năm giữ nơi biên giới. Tôi nói để tôi chụp cho anh một tấm hình với cột mốc. Gần 20 năm tuần tra những mốc 17, 18 thường xuyên, chưa một lần anh chụp ảnh cùng chúng. Dòng sông ngạo nghễ qua ghềnh thác dưới kia, chẳng phải là vì lúc nào cũng có những ánh mắt như thế này phía đầu nguồn sao?
Trong những hành trình của chúng tôi, luôn ám ảnh từ phía những dòng sông, về những bóng áo xanh biên phòng trên cái mầu trời cũng rất xanh biên giới. Chúng tôi vẫn cứ nao nức về nơi bắt nước của các con sông, mỗi cuối năm, về những quãng đường đằng đẵng hàng trăm, hàng nghìn cây số từ thành phố đến những trạm biên phòng hun hút. Những người lính, gắn mình với các dòng sông, đơn giản và hiển nhiên, để giữ những gì thân yêu máu thịt, chẳng có dòng chảy dữ dội nào thay đổi được. Phía biên cương, phía những thượng nguồn những dòng chảy, hình đất nước được vẽ từ những người rất thật.
“Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát
Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”.
(Nguyễn Khoa Điềm)