Kỳ 1 : Hành trình tới “Ù Giàng”
Năm 1970, trước khi thi tốt nghiệp ĐHSP, tất cả chúng tôi đều viết “Đơn tình nguyện” sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu Tổ quốc cần. Và tôi nhận quyết định công tác lên Cao Bằng khi chưa hề có khái niệm gì về vùng đất này.
Chuyến xe đầu tiên
Khi còn là sinh viên, tôi là thành viên đội Văn nghệ Trường ĐHSP Hà Nội 1, thuộc lòng bài hát truyền thống của trường: “Rừng núi vọng về, tiếng đàn em đang chờ đợi ta”. Vì vậy khi nhận quyết định của Bộ Giáo dục phân công đi Cao Bằng tôi cũng không cảm thấy bất ngờ. Đầu tháng 8-1970, bạn gái tôi - thành viên CLB viết văn trẻ trong đoàn Hội Văn nghệ Hà Nội - lên thăm Pác Bó Cao Bằng, đã nhặt một viên sỏi trắng ở suối Lê-nin dưới chân núi Các Mác mang về tặng. Như vậy ngoài câu ca dao “Nàng về nuôi cái cùng con/ Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng” và bài hát “Tiếng hát giữa rừng Pác Bó” tôi chỉ biết thêm Cao Bằng qua một vài câu chuyện bạn gái kể về chuyến đi Pác Bó.
Vào đầu tháng 9-1970 tôi cùng ba bạn đồng khóa lên tàu đi Lạng Sơn. Tàu đông nghịt người và hàng hóa, phần lớn khách ngồi bệt trên sàn tàu vì các ghế đều đã có người ngồi. Con tàu lắc lư, uể oải và chậm chạp khởi hành buổi sáng ở Hà Nội mà mãi chiều tối mới tới thị xã Lạng Sơn. Ngủ đêm ở bến xe Lạng Sơn, sáng hôm sau chúng tôi lên xe khách đi Cao Bằng. Chặng đường này cho tôi cảm nhận đầu tiên về đèo, dốc miền núi khi bị say xe, nôn thốc, nôn tháo. Sau hai ngày mệt nhoài trên xe lửa và ô-tô, tôi mới tới thị xã Cao Bằng. Sáng hôm sau, bốn chúng tôi nhận điều động về bốn trường ở bốn huyện khác nhau, tôi về Trường cấp 2, 3 Nà Giàng huyện Hà Quảng. Qua các đồng nghiệp đi trước ở Ty giáo dục Cao Bằng, tôi được biết Trường cấp 2, 3 Nà Giàng nằm trên con đường vào Khu di tích lịch sử Pác Bó, là trường cấp 3 duy nhất của huyện Hà Quảng nhưng lại ở cách xa trung tâm hành chính của huyện và là trường cấp 3 duy nhất của tỉnh có cái tên đậm chất miền núi. Anh em giáo viên cấp 3 của tỉnh vẫn gọi đùa là trường “Ù Giàng” chắc vì nó xa xôi hẻo lánh.
Từ thị xã Cao Bằng muốn lên Nà Giàng phải đi xe khách từ thị xã đến Nước Hai rồi sau đó đi xe ngựa lên Nà Giàng. 20 km đầu tới Nước Hai đường còn khá tốt, xe khách đi độ một tiếng rưỡi. Dừng xe trước cửa hàng mậu dịch, cậu thanh niên học ngay bài học đầu tiên. Thấy trên bảng của cửa hàng ghi có món “si rô bát”, tôi tưởng là si rô làm từ quả “bát”, hóa ra vẫn là thứ nước ngòn ngọt mầu hồng thông thường, rót ra bát để uống nên thành tên “si rô bát”. Những “bé cái nhầm” như vậy sau này rất nhiều.
Từ thị xã, tôi đi nhờ được một chiếc xe ngựa thồ hàng tới Nà Giàng. Thế là lần đầu tiên chàng trai Hà Nội được trải nghiệm đi xe ngựa trên con đường miền sơn cước ngoằn ngoèo xuyên qua những dãy đồi núi. Đến mỗi đoạn lên dốc lại nhảy xuống xe đi bộ để giảm tải, hết dốc lại leo lên xe. Lúc đó đường lên Hà Quảng đang được sửa chữa, mở rộng nên đường rất kém, nhiều ổ gà ổ trâu và lổn nhổn sỏi đá. Lần đầu đi trên con đường này chàng trai có cảm giác con đường rất dài, không biết bao giờ mới tới nơi. Nà Giàng ngày ấy chỉ có vài ngôi nhà và cửa hàng mậu dịch, bé nhỏ hơn cả trong tưởng tượng. Từ trung tâm Nà Giàng lên tới trường còn phải đi mấy cây số nữa. Ngôi trường tôi dạy nằm ở Bản Chá, xã Phù Ngọc, huyện Hà Quảng.
Bản Chá là một bản nhỏ có khoảng hơn chục nóc nhà, trường cấp 2, 3 Nà Giàng ở khu Tềnh Pò cao hơn mặt đường khoảng 10 m. Từ mặt đường tỉnh lộ muốn lên trường phải theo một con đường đã được làm bậc thang ngược lên phía trên, bên phải là dãy nhà giáo viên, bên trái là dãy ký túc xá học sinh. Phía sau là sân trường rồi đến các dãy lớp học tranh tre nứa lá. Sau trường là sân bóng đá trên bãi rộng Roỏng Kím với rừng cây sau sau (tiếng Tày là may tau, một loài cây thân gỗ khá phổ biến ở vùng núi phía bắc) mọc hoang kéo dài đến chân núi Phja Nóoc Mò. Năm 1970 phần lớn học sinh của trường là học sinh cấp 2. Cấp 3 mới có 3 lớp với khoảng hơn 100 học sinh. Giáo viên cấp 3 chủ yếu là các thầy miền xuôi, nhưng tôi lại là người Hà Nội duy nhất. Mà cũng chỉ có các thầy giáo, không có cô giáo. Lúc cầm quyết định của Bộ Giáo dục lên Cao Bằng dạy học, nhiều người động viên lên miền núi dạy học tuy xa xôi vất vả nhưng hết ba năm là được về. Nhưng ngay hôm đầu tiên đến Trường Nà Giàng, nói chuyện với những đồng nghiệp, tôi mới biết ở đây có người ít thì cũng năm năm, người nhiều phải hơn tám năm mới được xét về xuôi.
Nhìn cảnh rừng núi hoang vắng, lại nghĩ tương lai chẳng biết bao giờ mới được về nhà, mấy đêm đầu, tôi nằm trằn trọc không ngủ được.
Anh giáo đụng gì hỏng đấy
Trong tập thể giáo viên trường, tôi là em út, có đồng nghiệp hơn tôi tận 25 tuổi. Các anh lớn tuổi đều là người Cao Bằng nhưng nhà cách trường mấy chục cây số nên cũng ở tập thể giáo viên, cuối tuần mới về nhà. Các anh biết tôi là giáo viên mới ra trường, lại chưa quen với cuộc sống ở miền núi nên chân tình và tế nhị giúp giáo trẻ trong chuyên môn cũng như trong đời sống hằng ngày.
Anh Trung quê Phú Thọ đang dạy Văn cấp 3 ở Hòa An, năm 1970 được điều lên Nà Giàng cùng đợt với tôi. Anh dạy lớp 9, 10 còn tôi dạy lớp 8. Mang theo hành trang “tự tin đầy mình” nhưng những ngày đầu lên bục giảng tôi vẫn còn nhiều thắc mắc trong cách dạy, mỗi lần như tôi lại hỏi và được anh hướng dẫn tận tình. Vợ chồng anh thường mang sang phòng tôi khi bát cá kho, lúc đĩa khoai luộc vì biết suất cơm đạm bạc của bếp tập thể không đủ sức ăn với cậu trai trẻ. Còn anh Thọ người Cao Bằng, dạy Văn - Sử cấp 2 giúp tôi học tiếng Tày và phong tục tập quán Tày - Nùng. Anh có biệt tài đánh bắt cá, tối nào cũng xuống suối quăng chài, lúc trở về giỏ của anh bao giờ cũng đầy nhất. Cách vài ngày anh lại để dành cá kho, cá rán cho tôi. Phòng phía sau là anh Quang quê Thái Bình, giáo viên môn Hóa. Vừa gặp nhau, anh đã thân thiết quý mến, đóng giúp tôi cái chuồng nuôi gà bằng tre.
Ở trường, các giáo viên chưa có gia đình thường ăn cơm tập thể, mỗi thầy làm cấp dưỡng một ngày trọn vẹn trong tuần. Tôi từ nhỏ chưa từng phải động vào mấy việc chân tay, bây giờ học làm đụng gì hỏng đấy. Bữa trưa đầu tiên tôi được giao nấu cơm, dù có các đàn anh chỉ dẫn cụ thể vậy mà lúc ăn mọi người đều nhai trệu trạo vì cơm sống và oi khói, thức ăn cũng chẳng ra sao. Sự nghiệp đầu bếp không thành thì bổ củi cho bếp tập thể vậy! Nghe hướng dẫn cách bổ củi rồi lại được tận mắt quan sát cách làm, tôi cũng hăm hở thử vung rìu bổ nhát đầu tiên. Không ngờ khúc củi văng mạnh vào chân máu chảy đầm đìa, phải đi trạm xá cách trường hơn bốn cây số.
Vậy là chỉ còn mỗi việc đơn giản nhất là gánh nước. Nghĩ mình đã chẳng nấu được cơm, chẳng bổ được củi, đến việc gánh nước không làm được thì chán quá. Thế nên hằng ngày tôi cố gắng học gánh nước. Không quen gánh, tôi dùng cái xô bằng tôn để xách nước từ suối lên trường qua hai con dốc. Thi thoảng thấy cậu giáo lẻo khẻo khệ nệ xách nước, anh Quang, anh Bình cũng xúm lại đỡ vài phần.
Là đàn em, tuổi đời, tuổi nghề đều kém các đàn anh lại còn ngơ ngáo, ăn hại chẳng biết làm gì, vậy mà tôi vẫn nhận được sự quý mến giúp đỡ tôn trọng như vậy. Mỗi buổi chiều, sau khi tập thể dục thể thao, lúc nghỉ ngơi mọi người thường đề nghị tôi kể chuyện. Sẵn vốn truyện trong nước, nước ngoài đã đọc, thêm những chuyện thời sự nghe lỏm từ đài Orionton của anh Trung, tôi nhiệt tình kể lại cho các anh chị. Lâu lâu, mọi người còn miễn cho nhiều việc để tập trung “kể chuyện”.
Thật may mắn cho anh giáo trẻ vì mấy năm đầu của đời dạy học đã được sống cùng những đồng nghiệp tài năng, chân tình, vui tính và tốt bụng. Nhờ những đồng nghiệp ấy, anh giáo trẻ đã dần trưởng thành, vững vàng trong vai trò nhà giáo.
(Còn nữa)