NHẠC SĨ DOÃN NHO:

Muốn làm gì cũng phải có "tâm lành"

80 tuổi, nhạc sĩ Doãn Nho vẫn miệt mài sáng tác, miệt mài đi. Ông đi rất nhiều và viết cũng nhiều. Con người điềm tĩnh nhưng tràn đầy nhiệt huyết trong ông, dường như chưa bao giờ mỏi mệt. Ông nói, nhờ tập dưỡng sinh tâm thể mà ông luôn giữ được "tâm lành", tuyệt đối tránh hoang mang phải biết tin vào cái tốt trước mọi xô bồ của cuộc sống.

Muốn làm gì cũng phải có "tâm lành"

Mang âm nhạc đi kháng chiến

-Thưa nhạc sĩ Doãn Nho, nhắc đến thế hệ của ông, những nhạc sĩ mà có thể nói sự nghiệp âm nhạc gắn liền với nhiệm vụ kháng chiến bảo vệ Tổ quốc...

- Ðúng vậy rồi.  Tôi học kéo đàn violin từ khi còn rất nhỏ. Năm 13 tuổi, tham gia làm giao thông liên lạc trong Ðội Thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu năm 1945. Khi đó chỉ chạy công văn giấy tờ, thỉnh thoảng kéo đàn violin cho anh em trong đội nghe, tôi nhỏ tuổi nhất khi đó. Cho đến giờ chúng tôi vẫn gặp nhau hằng năm vào dịp 19-8 và Quốc khánh 2-9, dù năm nay 80 tuổi, mỗi lần gặp mặt tôi vẫn là nhỏ tuổi nhất (cười). Tôi biết kéo đàn violin, nên sau này tham gia vào Ðội thông tin tuyên truyền lưu động tỉnh Bắc Giang, rồi Ðội tuyên truyền xung phong tỉnh Vĩnh Yên. Nhiệm vụ của tôi chỉ là... kéo đàn, chủ yếu là "kéo" những bài hát kháng chiến phổ biến nên mọi người thích lắm. Nhưng ngay từ lúc đó tôi đã có ham muốn sáng tác những bài hát và bản nhạc dành riêng cho violin.

- Ông học sáng tác từ khi nào vậy ạ?

- Thực ra thì tự mày mò sáng tác chứ lúc đó chưa được học bài bản trường lớp gì cả. Người không chỉ dạy tôi vỡ lòng về âm nhạc, mà còn khêu gợi lòng ham muốn  sáng tác trong tôi chính là người anh ruột của tôi, anh Doãn Quốc Sỹ. Chính anh ấy cũng là người kéo violin và sáng tác nhạc đàn. Anh ấy dạy tôi theo kiểu truyền nghề. Ca khúc đầu tiên tôi viết với đầu đề Học sinh tiến lên, viết khi tôi còn là học sinh Trường Nguyễn Thái Học. Bài hát mang tính chất hành khúc, phảng phất  cái gì đó của Tiến bước dưới quân kỳ sau này. Khi học ở Trường Sĩ quan Lục quân, tôi viết bài Bà mẹ nuôi - giai điệu êm đềm tha thiết, nó bật lên từ nỗi nhớ mẹ của tôi pha trộn hình ảnh những bà mẹ địa phương mỗi trưa mang nước đến thao trường cho chúng tôi. Bài thứ ba tôi viết là theo "đơn đặt hàng" của chính trị viên, phục vụ tăng gia sản xuất, có tên là Ðào than. Lớp sĩ quan hồi đó hát những bài hát đấy và trong ký ức của nhiều người, họ còn nhớ đến bây giờ. Lúc ấy, thật sự nó đã động viên tinh thần ghê gớm.

Ðịnh hình chất dân tộc

- Vâng. Thế hệ về sau hẳn sẽ rất tò mò không biết hồi đó các nghệ sĩ đã làm thế nào để trở thành chuyên nghiệp và để lại một khối lượng đồ sộ tác phẩm cả về số lượng và chất lượng như thế?

- Có lẽ bước ngoặt trong cuộc đời sáng tác của tôi chính là khi tôi gặp được nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát và nhạc sĩ Ðỗ Nhuận ở Trường Sĩ quan Lục quân. Tôi kể chuyện này, vui một tý nhưng cũng là câu chuyện mà tôi nhớ đời. Ðó là khi tôi mang hai ca khúc mới sáng tác của mình hát cho hai ông nghe. Hát bài thứ nhất, bài Ðào than với tính chất vui nhộn, ông Nguyễn Xuân Khoát nghe xong thì ngồi im tủm tỉm cười, còn ông Ðỗ Nhuận nghe xong "phang" một câu: "Tây bỏ mẹ!". Ðến bài thứ hai, bài Mẹ, êm đềm tha thiết, nghe xong ông Nguyễn  Xuân Khoát vẫn tủm tỉm cười, còn ông Ðỗ Nhuận "phang" tiếp: "Tàu bỏ mẹ!".

Thế mà hai câu nói ấy làm cho tôi ngộ ra điều cốt lõi trong sáng tác: Phải cái gì đó là của mình!

Gặp được hai nhạc sĩ lớn ấy là một may mắn vô cùng đối với tôi. Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát  dạy tôi  lý thuyết âm nhạc và lòng yêu dân ca. Còn nhạc sĩ Ðỗ Nhuận truyền nghề cho tôi về thực hành sáng tác. Ông Ðỗ Nhuận thật sự là người thầy lớn của tôi.

Tuy vậy, phải đến năm 1961, tôi mới bắt đầu bước vào con đường chuyên nghiệp, khi được cử sang Liên Xô học sáng tác tại Nhạc viện Trai-cốp-xky. Nhưng khóa học bị gián đoạn mất tám năm, tôi phải về nước và đến năm 1972 tôi mới trở lại Liên Xô học tiếp. Tôi tốt nghiệp bằng giao hưởng tại Nhạc viện Trai-cốp-xky.  Trước đó vào năm 1955, tôi đã viết hợp xướng Sóng Cửa Tùng. Với sự nghiệp của một nhạc sĩ, phải kể đến những tác phẩm khí nhạc. Tôi viết nhiều khí nhạc, nhưng lại thường chỉ được nhắc đến với ca khúc.

- Có lần ông từng nói rằng, ông mơ ước có một đêm Giao hưởng Doãn Nho. 80 tuổi rồi, mơ ước ấy của ông vẫn chưa thực hiện được?

- Khó nhất là kinh phí. Ðến giờ vẫn chưa có nguồn nào để có thể làm được. Năm 2010, tôi viết thanh xướng kịch Hoa Lư Thăng Long Bài ca dời đô, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đầu tư một tỷ đồng để dàn dựng. Năm nay, tôi đang viết vở nhạc kịch về chiến tranh, cũng đã làm việc với Nhà hát Nhạc vũ kịch để công diễn vào năm sau, kỷ niệm 60 năm Ðiện Biên Phủ  và 70 năm Quân đội Nhân dân Việt Nam. Còn nhiều tác phẩm tôi viết thời trẻ mà vẫn chưa hề được công diễn lần nào.

- Vậy mà nhắc đến Doãn Nho, công chúng dường như chỉ nhớ đến Tiến bước dưới quân kỳ, Năm anh em trên một chiếc xe tăng, và gần đây có Chiếc khăn piêu được "hồi sinh" trở lại...

- Chuyện này cũng vui lắm. Quê tôi ở làng Cót, Từ  Liêm, quê chèo. Dân ca ngấm vào máu, sau đó nghe lời bác Nguyễn Xuân Khoát mà tôi ý thức rõ hơn về lòng yêu dân ca và chuyển hóa trong những sáng tác. Tôi viết Chiếc khăn piêu năm 1956. Có MC nói đùa với Tùng Dương là tuổi của ca khúc này gần gấp đôi tuổi anh khi anh hát nó. Nhưng Tùng Dương đã "thổi" được ngôn ngữ của ngày hôm nay vào bài hát đó. Và đặc biệt là bản phối của nhạc sĩ Nguyên Lê đã làm cho ca khúc trở lại tươi mới. Tôi từng nói đó là sự kết nối thế hệ. Ðó là sự tìm tòi trong kho tàng âm nhạc dân tộc để định hình rõ hơn bản sắc của mình, nhờ đó mà thành công.

Sáng tạo và dấn thân

- Nhiều người vẫn nhắc câu chuyện hai vợ chồng ông đi chiến trường Tây Nguyên, như một kỷ niệm đầy xúc động...

- À, đó là vào những năm 1966 - 1967, khi tôi bị gián đoạn học nhạc ở Liên Xô về, đi vào chiến trường Tây Nguyên. Cả hai vợ chồng cùng đi, con gái năm tuổi gửi cho vợ nhạc sĩ Huy Thục ở nhà nuôi nấng. Tôi là nhạc sĩ sáng tác, đi trước, còn vợ tôi là văn công phục vụ, đi ở tuyến sau. Khi đó vì một nhầm lẫn mà người ta báo về tuyến sau là tôi hy sinh, nhưng không dám nói với vợ tôi vì cô ấy đang đợt biểu diễn. Cô ấy hát phục vụ chiến sĩ đồng bào còn đồng đội ở dưới thì rơi nước mắt. Chính vì sau đợt đi chiến trường Tây Nguyên ấy, về sau bà ấy bị nhiễm độc. Năm 1996, phát hiện ung thư. May mà rồi nhà tôi gặp được phương pháp dưỡng sinh tâm thể mà vượt qua bệnh tật sống đến hôm nay với tôi. Ðó lại là một câu chuyện dài mà tôi sẽ kể trong dịp khác.

- Ông nghĩ sao về những sáng tác của thế hệ nhạc sĩ trẻ bây giờ?

- Thời đại nào có ngôn ngữ âm nhạc của thời đại đó. Tôi cho rằng chúng ta không nên lấy cách nhìn của thời đại này để soi chiếu lên thời đại khác. Với lớp trẻ bây giờ, tôi luôn luôn ủng hộ, cũng giống như các nhạc sĩ đàn anh đã dìu dắt, ủng hộ chúng tôi ngày xưa. Ðiều cơ bản là phải làm cho lớp trẻ thấy không phải thấy lạ rồi mình lấy cái lạ làm chuẩn mà chạy theo, cũng đừng thấy cái lạ mà vội vàng phê phán. 

Tuổi trẻ của thời tân nhạc, trong đó có ông Văn Cao chịu ảnh hưởng Tây Âu. Còn tuổi trẻ của thế hệ tôi chịu ảnh hưởng của Ðông Âu, chủ yếu là Liên Xô. Còn bây giờ thì châu Âu, châu Mỹ la-tinh, châu Phi, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật  Bản... tất cả gộp lại đè lên vai thế hệ trẻ. Thế nên để định hình không phải chuyện dễ. Lớp trẻ, họ vẫn đang nhọc nhằn tìm tòi. Cần trân trọng và khuyến khích họ.

- Hiện tại ông vẫn sáng tác đều, điều gì giữ cho ông sức sáng tạo lâu bền như vậy?

- Tôi đi nhiều, tích lũy nhiều. Giờ chỉ ngồi viết thôi cũng còn lâu mới cạn vốn. Nhưng để viết được, mình phải tĩnh tâm. Tôi tuyệt đối tránh hoang mang. Muốn làm gì cũng phải có tâm lành. Có tâm lành thì mình giữ mình ổn định được và giúp đỡ được mọi người. Tôi vẫn còn nhiều kế hoạch cho những tác phẩm và công trình lý luận. Cứ bình tâm mà viết thôi.

- Vâng, xin cảm ơn ông và chúc ông tiếp tục thành công trong sự nghiệp âm nhạc của đời mình.

Lãnh đạo Hội Nhạc sĩ Việt Nam tặng hoa chúc mừng ê-kíp sáng tạo sau đêm công diễn vở thanh xướng kịch Hoa Lư Thăng Long Bài ca dời đô.

Có thể bạn quan tâm