Làng tôi lên phố đã được độ 20 năm. Nhà cửa mọc lên san sát, đất vườn chia lô, ao chuôm lấp sạch, ngõ làng ngày trước thưa thớt người qua giờ ô-tô nườm nượp. Có hôm còn tắc đường hẳn hoi. Làng lên phố, xem ra dễ nhất là đổi tên đường và đánh số nhà. Còn nếp sống thì chưa chắc đã theo kịp.
Nhà tôi vẫn giữ được chút phong cách làng. Mặt tiền rộng, tường rào dài, cổng xây cách nay đúng ba mươi năm. Thành thử đoạn đường chạy dọc bức tường nhà tôi lâu nay thành nơi đỗ xe của mấy nhà đối diện. Các nhà ấy đều có mặt tiền riêng, nhưng phải để lối ra vào cho thuận. Xe thì đem sang phía nhà tôi. Họ đỗ khá ý tứ, chừa cổng, không chắn lối. Tôi chẳng phiền. Đường là đường chung, bức tường là của mình, hai thứ ấy vốn không nên nhập nhằng.
Sự nhập nhằng bắt đầu vào một buổi trưa. Tôi đang ngủ thì nghe tiếng đôi co ngoài cửa. Hóa ra ông Hùng nhà đối diện và ông Lâm nhà chếch bên đang tranh nhau chỗ đỗ xe sát tường nhà tôi. Ông Hùng bảo chỗ ấy ông vẫn đỗ suốt mấy năm, có tính lịch sử hẳn hoi. Ông Lâm đáp, sáng nay ông đến trước, đường công cộng ai cấm được.
Thấy tôi bước ra, cả hai lập tức mời làm trọng tài phân xử. Có lẽ trong suy nghĩ của họ, bức tường thuộc nhà tôi thì tôi đương nhiên có một thứ quyền tài phán nào đó đối với phần đường bên ngoài. Tôi đành từ chối cái vinh dự bất đắc dĩ ấy. Tôi bảo, các ông thông cảm, đấy có phải đất nhà tôi đâu mà tôi phân xử.
Chỗ đỗ xe ở làng tôi, à phố tôi thật ra chẳng thiếu đến mức ấy. Cách nhà chừng ba phút đi bộ có một bãi xe rộng, lợp mái tôn, trông giữ ngày đêm, giá hơn một triệu đồng mỗi tháng. Nhưng bãi chỉ lác đác vài chiếc. Lòng đường quanh đây nhiều đoạn vẫn được phép đỗ, hà cớ gì phải mất tiền, lại còn cuốc bộ về nhà. Mưa thì ướt, nắng thì nóng. Người ta bỏ cả tỷ bạc mua ô-tô để hưởng tiện nghi, chứ đâu phải để đi bộ thêm ba phút. Cái lý ấy nghe qua cũng xuôi tai. Chỉ có điều, muốn mình tiện nhất thì thường phải có ai đó chịu thiệt đi một chút.
Cái tiện đang trở thành một thứ đặc quyền của thị dân. Mà người làng lên phố thì là thị dân làng với những lập luận cho cái tiện cũng đặc biệt. Trước kia, người làng có thể cãi nhau vì chuyện con gà, con chó chạy lung tung, nhưng vẫn sẵn lòng cho hàng xóm mượn sân phơi thóc, dựng rạp đám cưới, kê bàn đám giỗ. Sự hào phóng ấy dĩ nhiên có giới hạn, chứ làng quê Bắc Bộ mà cứ tô hồng về sự phóng khoáng e chừng hơi quá.
Nhưng người ta còn một thứ thể diện cộng đồng. Sống cạnh nhau lâu, sáng chạm mặt, tối gặp nhau, con cái học cùng trường, ông bà ăn cỗ ngồi cùng chiếu. Cãi nhau xong vẫn phải nhìn nhau mà sống. Bây giờ nhiều nhà khép cửa cuốn từ sáng đến tối. Hàng xóm mới mua đất với những thị dân làng cũ, biết nhau qua biển số xe, thậm chí nhớ biển số còn chính xác hơn tên chủ xe. Cũng vì thế phát sinh nhiều thứ tranh chấp kiểu này.
Pháp luật cũng có những chỗ không thể thay người ta cư xử. Đỗ xe ở nơi được phép thì chẳng có gì sai. Luật có thể quy định chỗ nào được đỗ, chỗ nào phải cấm, nhưng khó mà phân xử hết những bất tiện li ti của đời sống. Rốt cuộc, vẫn phải trông vào sự biết điều. Hai chữ nghe nôm na, có vẻ quê mùa, nhưng nhiều khi hiệu nghiệm hơn một cuộc tranh biện đầy đủ chứng cứ và nhân chứng.