Từ thuở ấu niên tôi vẫn thường nghe ông bà người Kinh mình nói với nhau câu: “Chết là hết”. Nhưng lớn lên thì hiểu, đó chẳng qua là câu nói thể hiện trạng thái tâm lý mệt mỏi khi muốn rũ bỏ. Sự thật không phải như vậy. Văn hóa tâm linh ăn sâu trong gốc rễ của người Kinh, chết không có nghĩa là “hết”. Nói chết là hết thế mà sao người sống cứ mãi tưởng nhớ, thương tiếc những người đã mất. Hết làm sao được khi lời khấn niệm thì mong người chết siêu thoát nhưng bản thân thì lại cứ tìm cách níu kéo mãi mãi. Ở người Kinh, không có một cuộc chia tay vĩnh biệt đúng nghĩa.
Trên miền Tây Nguyên, nhiều tộc người cũng nói: “cău chớt la jớt” (chết là hết). Đồng bào đã nghĩ và làm đúng như lời họ nói. Trong thế giới sinh tồn của nhiều tộc người thiểu số, chết là hết thật sự, là mất hẳn, là tiêu tan hẳn, là biến mất hẳn khỏi thế giới người sống. Người chết được lo tang ma long trọng, được chia của (đồ thật như xe máy, tivi, khung dệt, xoong nồi…) mang đi như khi họ từng sống. Chỉ có khác là sau lễ bỏ mả, giữa người sống và người chết có một cuộc chia tay vĩnh viễn, không hề để lại vương vấn. Người chết, dù là ai trên thế gian này, thì lễ bỏ mả đã mang thể phách họ đi và trao gửi cho mênh mông đại ngàn. Linh hồn người chết được tái sinh cuộc đời mới ở một thế giới khác. Từ giờ phút bỏ mả, “con ma” không còn được phép nhớ về cõi sống, không còn được tìm lối về buôn làng. Con ma hoàn toàn về với rừng xanh, nơi từ đó mà bào thai từng hoài sinh cho họ làm người một quãng ngắn trong cõi miên thường. Từ lễ bỏ mả, người sống không còn sợi dây liên hệ nào với người đã chết…
Đó là câu chuyện vũ trụ quan và nhân sinh quan lâu đời của người Tây Nguyên. Nhưng trong thời hiện đại, ở một số cộng đồng, đã có sự thay đổi. Tôi không dám nói là đúng hay sai, chỉ thấy nó “khác” với những gì đồng bào từng quan niệm, thực hành. Xin ghi lại một vài thông tin từ nghĩa trang của làng Plei Pyang của người Ba Na (xã Kông Chro, tỉnh Gia Lai), nơi mà tôi đã trực tiếp chứng kiến những hình ảnh mang sắc thái “tiếp biến văn hóa” mà bản thân chưa lý giải kỹ:
Là những tộc người có tục bỏ mả, ngày trước, đồng bào không bao giờ xây mộ kiên cố mà chỉ làm những ngôi mộ có vật liệu như gỗ, tre, dễ hoang phế, tiêu tan vào cõi tự nhiên. Nay thì khác, ở nghĩa trang Plei Pyang, tôi được thấy rất nhiều ngôi mộ đã được xây lớn, trụ sắt, mái tôn, ốp đá hoa cương. Tôi chắc chắn, những người xây mộ là một kíp thợ người Kinh nhận thầu.
Có rất nhiều bức tượng nhà mồ được trang trí sặc sỡ bằng sơn Kova hay Dulux… chứ không còn sự thô mộc tự nhiên bởi những nhát rìu bóc thân gỗ quý rừng già với sắc màu trầm mặc, u uẩn.
Tôi cũng được đọc đôi câu đối bằng thư pháp tiếng Việt khắc trên đá ở một ngôi mộ: “Mẹ về cõi Phật hồn thanh thản/ Con cháu dương trần mãi nhớ thương.” Đọc mà thấy lạ, người Ba Na không theo đạo Phật và họ cũng không hề biết đến “văn hóa câu đối” là gì.
Rất nhiều ngôi mộ đã khắc chạm mộ chí trên đá, ví như: “Y Pan N. T., quê quán: Plei Pyang-Kông Chro; sinh ngày 23/4/1945; mất ngày 14/3/2015.” Ngày trước, người Ba Na, người Tây Nguyên quan niệm “chết là hết”; ngày nay, hình như họ đã bắt đầu có ý thức lưu lại tuổi tên, danh phận trước khi cất bước về với rừng Yàng.
Nếu những chuyện mà tôi kể trên ngày càng phổ biến thì lễ bỏ mả sau này còn mang ý nghĩa thật sự như nó vốn có không nhỉ?!... ■