Nơi bắt đầu của một thế giới văn chương
Gần nửa thế kỷ cầm bút, nhà văn Nguyễn Nhật Ánh cho thấy một đời văn có thể được xây dựng từ những điều tưởng như rất riêng: Ký ức, quan sát và trí tưởng tượng. Nhưng để biến những chất liệu ấy thành một thế giới văn chương có sức sống qua nhiều thế hệ, người viết cần một thái độ nghề nghiệp nghiêm cẩn. Qua hành trình sáng tác của mình, Nguyễn Nhật Ánh cho thấy sức bền của ngòi bút trước hết được tạo nên từ cách người viết sống với nghề.
Trong nhiều sáng tác của Nguyễn Nhật Ánh, tuổi thơ dường như luôn có một vị trí đặc biệt. Khi trực tiếp qua nhân vật, khi thấp thoáng trong một địa danh, một câu chuyện, một chi tiết, tuổi thơ trở thành một trong những nguyên liệu quan trọng làm nên thế giới nghệ thuật của ông. Nhưng nếu chỉ gọi đó là văn chương hoài niệm thì có lẽ chưa đủ. Ký ức trong sáng tác của ông là một thứ nguyên liệu được nhào nặn cùng quan sát đời sống và trí tưởng tượng để tạo thành thế giới riêng.
Nguyễn Nhật Ánh từng lý giải nguồn cảm hứng sáng tạo của nhà văn đến từ ba yếu tố: Một là đến từ kỷ niệm, ký ức. Hai là từ sự quan sát đời sống chung quanh. Ba là trí tưởng tượng. Ba yếu tố ấy, theo ông, thường không quá tách bạch mà nó trộn lại với nhau, tạo nên nguồn sáng tạo của nhà văn.
Với một nhà văn chuyên viết cho thiếu nhi, thanh, thiếu niên, ký ức chiếm vị trí đặc biệt. Ông từng nói: “Có lẽ do tôi sống xa nhà từ nhỏ và tôi đã để tuổi thơ của mình ở lại sau lưng quá sớm”. Viết về tuổi thơ vì thế là một cách trở về, nhưng cũng là cách nhà văn đối thoại với chính quá khứ của mình. Thị trấn Hà Lam trong tác phẩm mới nhất của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, “Chuyện tình thị trấn” (NXB Trẻ, 7/2026), là một trường hợp như vậy.
Điều ấy giải thích phần nào sự hiện diện dai dẳng của tuổi thơ trong văn Nguyễn Nhật Ánh. Những nhân vật, cảnh đời, tình huống có thể bắt nguồn từ những gì ông từng gặp hoặc nghe kể, nhưng khi vào sách đã được chắt lọc, cấu trúc lại. Một chi tiết có thật không đồng nghĩa với một nhân vật là nguyên mẫu ngoài đời. Ông từng kể trong “Cô gái đến từ hôm qua“, chuyện nhân vật lấy bút vẩy mực lên áo dài của cô bạn mình thích là một chi tiết có thật; còn những cuộc tình éo le của các nhân vật nam lại không phải đời ông.
Bởi vậy, thế giới văn chương Nguyễn Nhật Ánh vừa gần gũi vừa không phải bản sao của đời sống. Người đọc nhận ra những con đường, ngôi làng, trò nghịch ngợm, những rung động đầu đời và cả những buồn vui rất đỗi quen thuộc, nhưng tất cả đã được chuyển hóa thành một thế giới nghệ thuật có giọng điệu riêng.
Kỷ luật chữ nghĩa: Nền tảng một đời văn
Nếu ký ức là nơi bắt đầu thì kỷ luật chính là thứ giúp thế giới ấy không ngừng được mở rộng. Sự nghiệp Nguyễn Nhật Ánh cho thấy một điều tưởng đơn giản nhưng không dễ thực hiện: Văn chương không chỉ cần cảm hứng, mà còn cần một đời sống lao động nghiêm túc.
Ông từng ví việc viết văn như “kiến tha lâu đầy tổ“. Mỗi ngày viết vài trang, ít hơn thì nửa trang, vài dòng; tích lũy từng chút một, đến một lúc mỗi năm có một cuốn sách. Với Nguyễn Nhật Ánh, viết không phải một công việc chỉ diễn ra khi cảm hứng xuất hiện. Nó đã trở thành một nhịp sống.
Khi được hỏi có khi nào mất cảm hứng và động lực sáng tác, nhà văn khẳng định “chưa bao giờ“. Bởi theo ông, “mình phải yêu nghề của mình, việc viết văn phải là đam mê và đã là đam mê rồi thì lúc nào mình cũng hứng thú với nó hết“. Niềm hạnh phúc lớn nhất của Nguyễn Nhật Ánh cũng rất giản dị: Được ngồi dưới mái nhà của mình, thong thả viết những trang văn mình thích.
Ở đây có một quan niệm đáng chú ý về nghề văn. Nguyễn Nhật Ánh không nhìn nhà văn như một người chỉ chờ cảm xúc đến, mà như một người lao động phải liên tục đọc, tích lũy và làm giàu công cụ của mình. Ông quan niệm: “Nhà văn ắt nhiên phải giỏi dùng chữ”, đồng thời cho rằng, muốn giàu chữ phải đọc hàng trăm cuốn sách, hàng nghìn tờ báo; có chữ rồi lại phải biết dùng chữ, bởi “kiếm chữ thì dễ mà dùng chữ mới thiệt là khó“.
Đó cũng là lý do đằng sau cái gọi là “hiện tượng Nguyễn Nhật Ánh“ không chỉ có tài năng kể chuyện. Có một sức bền nghề nghiệp rất rõ ràng: Sách mới đều đặn xuất hiện, sách cũ vẫn liên tục được tái bản, độc giả vẫn tìm đến các buổi ra mắt, xếp hàng mua sách và xin chữ ký. “Chuyện tình thị trấn“ phát hành với 80 nghìn bản ngay lần in đầu, trong đó có 20 nghìn bản bìa cứng, là thí dụ mới nhất.
Con số ấy chỉ thật sự có ý nghĩa khi đặt cạnh một lịch sử xuất bản: “Cô bé hàng xóm và bốn viên kẹo” (2025), “Tiệm sách của nàng” (2024), “Mùa hè không tên” (2023) cũng đều in lần đầu 80 nghìn bản. Bên cạnh đó, những tựa sách xuất bản trước đó như “Kính vạn hoa”, “Mắt biếc”, “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh”, “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ”, “Tôi là Bêtô”... vẫn được tái bản và tiếp tục đến với những độc giả thế hệ mới. Một nhà văn có thể viết một cuốn sách bán chạy, nhưng để nhiều cuốn sách lần lượt tìm được độc giả qua hàng chục năm lại là câu chuyện khác. Nó đòi hỏi không chỉ tài năng mà cả khả năng duy trì chất lượng, nhịp viết và mối quan hệ lâu dài với người đọc.
Vì thế, nếu gọi Nguyễn Nhật Ánh là một trong những nhà văn chuyên nghiệp bậc nhất của văn học Việt Nam đương đại, đó không chỉ là một lời tán dương. Sự chuyên nghiệp ấy có thể nhìn thấy bằng chính cách ông làm nghề: Viết đều, đọc nhiều, trau dồi chữ nghĩa, giữ nhịp lao động và kiên trì với độc giả của mình.
Từ trang sách dành cho trẻ nhỏ, chữ nghĩa của ông còn đi vào âm nhạc. Bài thơ "Thành phố tình yêu và nỗi nhớ" được Nguyễn Nhật Ánh viết năm 1979, nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn phổ nhạc ngay sau đó. Không cần gọi tên thành phố, bài hát vẫn trở thành một trong những ký ức âm nhạc gắn với TP Hồ Chí Minh của nhiều thế hệ.
Khi tác phẩm bước ra khỏi trang sách
Có một thước đo khác cho sức sống của Nguyễn Nhật Ánh: Tác phẩm của ông không dừng lại ở hiệu sách. Chúng đi vào nhà trường, âm nhạc, điện ảnh và tiếp tục sống trong ký ức của nhiều thế hệ.
Bài thơ "Khi trang sách mở ra", viết năm 1982, với những câu: "...Trong trang sách có biển/Em thấy những cánh buồm/Trong trang sách có rừng/Với bao nhiêu là gió/Trang sách còn có lửa/Mà giấy chẳng cháy đâu/Trang sách có ao sâu/Mà giấy không hề ướt..." được chọn vào sách giáo khoa "Tiếng Việt" của bộ "Kết nối tri thức với cuộc sống"; hay trích đoạn "Tôi là Bêtô" được đưa vào "Ngữ văn 6" của bộ "Kết nối tri thức với cuộc sống" là những thí dụ sống động cho thấy văn chương của Nguyễn Nhật Ánh đã bước vào nhà trường, đến với những thế hệ độc giả mới từ khi họ còn ngồi trên ghế nhà trường.
Điện ảnh lại mở ra một ô cửa khác cho văn chương Nguyễn Nhật Ánh. “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh“, “Ngày xưa có một chuyện tình“, “Mắt biếc“, “Cô gái đến từ hôm qua“… đều đã được chuyển thể. Một số tác phẩm khác cũng đã được các đạo diễn “chấm chọn”. Như thế, hàng loạt tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh có thêm một vòng đời, với những diễn viên, đạo diễn và cách kể khác. Chính Nguyễn Nhật Ánh từng ví một tác phẩm được chuyển thể như “một món ăn được nấu lại bởi một đầu bếp khác, với kỹ thuật khác“. Nhà văn không kiểm soát hoàn toàn đời sống mới của tác phẩm, nhưng có thể chứng kiến nó tiếp tục được đọc, xem và diễn giải.
Những trường hợp như vậy đặt lại một câu hỏi đáng suy nghĩ về vai trò của nhà văn trong xã hội. Nhà văn không chỉ tạo ra những văn bản để đọc. Họ có thể tạo ra ký ức, hình thành những hình dung về tuổi thơ, về tình yêu, về con người; có thể góp phần gieo những hạt mầm đầu tiên của lòng nhân hậu và trí tưởng tượng nơi một đứa trẻ. Những tác động ấy thường diễn ra lặng lẽ, không phải lúc nào cũng có thể quy đổi thành một con số.