Ba cánh chim bằng miền phố biển

Nha Trang một thời có ba nhân vật văn chương nổi tiếng sống và sáng tác, dâng đời những tác phẩm văn chương tràn đầy giá trị cảm xúc, đó là thi nhân Quách Tấn, Giang Nam và nhà văn Võ Hồng. Họ thật sự là những cánh chim sải cánh rộng trên bầu trời văn chương xứ Việt. Thật may mắn tôi được gặp cả ba con người ấy lúc sinh thời.

Nhà thơ Quách Tấn.
Nhà thơ Quách Tấn.

Thi sĩ “Mùa cổ điển” bên chợ Đầm

Thật tình cờ tôi, kẻ hậu sinh biết gần nhà mình có một thi nhân nổi tiếng một thời: Quách Tấn (1910-1992)! Rất tiếc mùa đông năm 1990 khi đến thăm chỉ gặp một ông già râu tóc bạc phơ ngồi trên võng treo dưới cây mận già trong vườn đầy mai trúc. Lúc đó Quách Tấn đã bị mù nhưng ông rất sáng suốt, nói chuyện hồn nhiên và hầu như ông luôn đọc thơ của mình sáng tác.

Ngôi nhà số 12 Bến Chợ (Nha Trang) xưa nằm bên đầm Cù (Én) sau là chợ Đầm Tròn được Quách Tấn mua lại năm 1937 khi ông từ Đà Lạt về Nha Trang sinh sống, làm việc. Ở đây ông thường đón bạn văn thơ của nhóm “Bàn thành tứ hữu”: Yến Lan, Chế Lan Viên. Riêng Hàn Mặc Tử chưa từng tới vì bị bệnh sống ở Quy Hòa (Quy Nhơn - Bình Định). Bốn người này kết thân từ thuở hoa niên thường leo lên gác lầu thành Bình Định ngắm trăng, làm thơ. Trong số “tứ linh” thì Quách Tấn là người có điều kiện nhất về vật chất vì làm công chức nhà nước từ sớm nên thường chu cấp cho bạn bè kể cả thi sĩ Tản Đà. Sau này còn đảm nhiệm cải táng mộ phần của Hàn Mặc Tử ở Ghềnh Ráng, Quy Nhơn khang trang hơn thời ở Quy Hòa.

Lúc trò chuyện với Quách Tấn dưới cây mận già ở vườn, dù không nhìn thấy nhưng thi sĩ vẫn nói có bốn cành mận chĩa ra bầu trời, theo Quách Tấn đó là tượng trưng cho Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan và Quách Tấn. Ông kể, có người mất thì một cành mận sẽ héo. Gần thời điểm khi ấy Chế Lan Viên mất (1989) một cành về hướng nam héo dần! Rồi sau này đến năm 1992 Quách Tấn mất và 1998 Yến Lan mất cây mận héo khô! Ông Quách Giao - con trai Quách Tấn còn cắt một cành mận trưng ở bàn thờ cha như một kỷ niệm.

Quách Tấn kể, với ông thơ Đường ngấm vào máu thịt mình từ bé nên ông rất thích viết thể loại này, chẳng cứ Hoài Thanh gọi ông là “sứ giả của Đường Thi”. Là người của công việc, dù rất bận nhiệm vụ thư lại ở Phủ đường tỉnh nhưng Quách Tấn luôn sáng tác rất đều tay. Không chỉ làm thơ (Một tấm lòng, Mùa cổ điển, Đọng bóng chiều, Mộng Ngân sơn…) ông còn viết sách biên khảo về địa phương chí rất nổi tiếng có giá trị đến tận hôm nay: “Nước non Bình Định”, “Xứ Trầm hương”, “Nhà Tây Sơn”… Ông chỉ vào cái rương gỗ ở góc nhà nói, đấy! Tôi còn mấy chục bản thảo chưa in!

Quách Tấn viết rất hoạt, văn phong thoáng và hầu như ông đều có đưa thơ vào văn để minh họa. Rất tiếc những năm cuối đời mắt lòa chữa không khỏi nên hằng ngày ông nhờ một người cháu gái đến ghi chép giúp sáng tác của mình. Có thể nói Quách Tấn là một con người sáng tác đến phút cuối cùng.

172.jpg
Nhà văn Võ Hồng.

Võ Hồng, viết để trả ơn mọi người

Mỗi khi nhắc đến Võ Hồng (1923-2013), trong tôi hoài cảm dâng trào kỷ niệm về những năm tháng cuối đời của nhà văn. Ông sống trong một căn phòng nhỏ trên tầng hai ở đường Hồng Bàng, Nha Trang. Mỗi lần đến thăm ông, khách đều kéo sợi dây. Rồi tiếng ống lon sữa bò kêu lanh canh ngộ nghĩnh như đúng dòng chữ dán ở cổng: “Kéo chuông gọi Võ Hồng”.

Võ Hồng quê tận làng Ngân Sơn, xã An Thạch, huyện Tuy An tỉnh Phú Yên (cũ). Sau nhiều năm lưu lạc khắp nơi, đến năm 1956 ông vào Nha Trang dạy học, viết văn. Có thể nói văn nghiệp của Võ Hồng thật nổi tiếng suốt nhiều thập kỷ thế kỷ 20, được xếp vào đội ngũ các nhà văn hàng đầu của văn học Miền Nam trước giải phóng. Ai yêu văn chương mà không biết “Hoài cố nhân”, “Trầm mặc cây rừng”, “Thiên đường trên cao”, “Vẫy tay ngậm ngùi”, “Trong vùng rêu im lặng”, “Thương mãi trường xưa”… Các thế hệ trẻ lớn lên luôn có tác phẩm của Võ Hồng trong tiềm thức. Có một giai đoạn sau giải phóng, Võ Hồng rụt rè chững lại, ít viết trong niềm cô đơn hiu quạnh (Vợ ông chết sớm - 1957, ông ở vậy, sống cảnh gà trống nuôi con) mãi tới năm 1990, ông mới trở lại văn đàn. Ông viết liên tục và ra sách: “Chia tay người bạn nhỏ” (1991), “Một bông hồng cho cha” (1991), “Vẫy tay ngậm ngùi” (1992)… rồi truyện in trên các báo. Mọi người lại dạt dào đón nhận Võ Hồng - thầy giáo viết văn thuở nào.

Tôi hay đến thăm ông dưới góc độ nhà báo, vừa là cậu học trò nhỏ. Võ Hồng rất mẫn tiệp, xưng hô nhẹ nhàng, thỉnh thoảng chen vào vài câu tiếng Pháp cho vui. Ông kể rằng, khi xưa vợ ông mất có đàn con líu ríu bên mình, rồi đến trường với bầy trẻ nhỏ. Khi về hưu, con cái lớn hết làm ông cô quạnh, thấy mọi người vẫn nhớ, mến nên rất xúc động. Tâm hồn đa cảm trìu mến trở lại hóa thành những trang văn. Ông nói, viết để trả ơn mọi người. Tôi vẫn nhớ ông đeo kính mắt phóng đại (chắc thời đó chưa có thủy tinh thể nhân tạo) ngồi cặm cụi viết chậm rãi trên cuốn sổ học trò. Ông viết gọn gàng tinh tươm như một cậu bé học trò ngoan. Ai đến, nếu quan tâm, ông giới thiệu tác phẩm mới của mình với tất cả sự hồn nhiên trong veo. Có lần ông chỉ lên vòm cao có tán khế quả chín vàng hàng xóm nghiêng sang sân thượng của mình: “Nếu không viết thì có khác gì quả khế đâu? Thời gian nắng gió sẽ làm cho rụng xuống vô nghĩa”. Thật kỳ diệu khi ngồi ngắm vườn cây, Võ Hồng suy tư ra rất nhiều điều thú vị độc đáo mà ông tự nhận là những chuyện “Cây vườn”. Tôi đọc truyện ông đăng báo và in sách như gặp nụ cười hóm hỉnh tủm tỉm của nhà văn.

173.jpg
Nhà thơ Giang Nam.

“Quê hương” một miền xanh ký ức chiến tranh

“Thuở còn thơ hai buổi đến trường/Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ”. Ai cũng nhớ đến những câu thơ của bài thơ “Quê hương” của nhà thơ Giang Nam.

Nhà thơ sinh ra lớn lên bên dòng sông Dinh êm đềm xanh biếc những rặng tre đôi bờ thuộc Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa. Từ thuở bé thơ, Nguyễn Sung (tên thật nhà thơ) đã thông minh sáng dạ nên được gia đình cho ra tận Quy Nhơn-Bình Định học Thành Chung ở Trường Quốc học. Đây là ngôi trường có nhiều nhà văn, nhà thơ nổi tiếng như Xuân Diệu, Yến Lan, Chế Lan Viên, Hồ Zếnh… Từ yêu văn chương chàng thanh niên Nguyễn Sung lấy bút danh Giang Nam (ý từ bài thơ “Khúc linh cầu” của Hồ Zếnh: “Tô Châu lớp phủ kiều/Trăng đêm Dương Tử mây chiều Giang Nam”).

Rồi kháng chiến bùng nổ, Giang Nam theo anh lên chiến khu hoạt động cách mạng, là người có chữ nên thường được giao những việc liên quan đến văn chương báo chí, ông là người tham gia làm báo Thắng năm 1947 (tiền thân báo Khánh Hòa sau này), tham gia Hội Văn nghệ Kháng chiến thời chống Pháp và Văn nghệ Giải phóng thời chống Mỹ. Bài thơ nổi tiếng “Quê hương” là sự “sang chấn” khủng khiếp của ông, đó là năm 1960 khi đang ở Hòn Dù cách Nha Trang không xa, Giang Nam nghe tin vợ con bị giặc giết hại ở nhà tù Phú Lợi, Sông Bé. Cả đêm đó ông không ngủ bởi đau đớn bàng hoàng, dưới ngọn đèn dầu ông viết một mạch bài thơ “Quê hương” trong nước mắt giàn giụa mờ chiếc kính ông đeo. May mắn làm sao năm 1961 khi vào Củ Chi, ông nghe tin vợ con vẫn còn sống và về quê tại Nha Trang.

Giang Nam là con người cảm xúc thầm kín, chúng ta vẫn còn nhớ những tác phẩm nổi tiếng của ông như: truyện ngắn “Vở kịch cô giáo” ông đăng trên báo chí miền Nam công khai năm 1959, bài thơ “Nghe em vào đại học”, “Quê hương”… Tất cả đều có gì đó ngậm ngùi đa cảm nhưng ngoài đời ông lại rất hiền lành, ý nhị. Ông là một trong những “Lá cờ đầu” của thơ ca giải phóng: Giang Nam, Thanh Hải, Thu Bồn…

Với Giang Nam, không cần đến nhà riêng ông để gặp vì suốt những năm sinh thời tôi cũng như giới văn nghệ gặp ông ở khắp nơi: Hội nghị, triển lãm, cuộc họp lớn nhỏ. Nói gì ông cũng cười nhẹ, gật gù vui vẻ. Nếu đến nhà ngôi nhà đẹp ở trung tâm của Nha Trang do vợ ông dành dụm mua lại sau giải phóng, ông cũng vui vẻ tiếp ở hiên nhà cũng là thư phòng dưới giàn phong lan. Người ta tưởng Giang Nam hiền, ít nói nhưng hóa ra ông am hiểu mọi việc, đặc biệt giới văn nghệ rất sâu sắc. Ông đánh giá nhận định thẳng thắn nhưng rất hiền hòa. Ông ít khi nói về chuyện sáng tác của mình mặc dù vốn liếng thơ ca ông đã hội tụ cả hơn 70 năm.

Có một điều rất đáng tiếc là cho đến lúc giã từ cuộc sống ông vẫn không được trao đặc cách Giải thưởng Hồ Chí Minh, vì chính ông vẫn thường nói, mọi thứ hãy để tự nhiên, vì thế ông từ chối làm đơn xin được trao tặng. Giang Nam để lại một nhân cách rất đáng ngưỡng mộ.