1. Theo ánh nhìn của ông Kim Lãm, chúng tôi cùng hướng về chân cột cờ. Như một “phép mầu”, ngay trước chỗ chúng tôi và mọi người đang đứng, xuất hiện ba người lính tiêu binh danh dự trong bộ lễ phục trắng. Ông Kim Lãm bấy giờ mới nói đủ nghe: “Đúng 10 giờ 30 phút là lễ thượng cờ”.
Sau tiếng hô “Đi nghiêm. Bước!” dứt khoát, ba người lính đĩnh đạc những bước chân nghiêm trang đi đều từ sân lên bệ cột cờ. Rất trang nghiêm và thành thạo, lá cờ được luồn vào dây treo. Cờ từ từ kéo lên, khi vạt cuối lá cờ qua khỏi tầm tay thì người lính tiêu binh đứng giữa làm động tác tung cờ. Quốc ca vang lên hùng tráng.
Chúng tôi cùng ngước mắt trông theo lá cờ đang từ từ lên tới đỉnh cột cờ. Dường như tất cả chúng tôi vừa cất tiếng hát vừa giơ tay chào theo điều lệnh quân đội. “Một lễ chào cờ của những người chiến sĩ” tôi thầm thốt lên.
Đợi cho không khí xúc động của mọi người lắng xuống, ông Kim Lãm cho chúng tôi hay: “Tuyến cáp treo lên đỉnh Phan Xi Phăng được đưa vào sử dụng phục vụ nhu cầu tham quan du lịch của mọi tầng lớp nhân dân vào ngày mùng 2/2/2016, kịp chào mừng Ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam”.
Và đến ngày 13/1/2017 thì cột cờ đỉnh Phan Xi Phăng được khánh thành. Nằm ở độ cao 3.147,3m so mực nước biển nên được xác lập là cột cờ cao nhất Việt Nam và cao nhất Đông Dương vì đỉnh Phan Xi Phăng được ví là “nóc nhà Đông Dương”. Ông Kim Lãm chợt nghèn nghẹn: “Đúng hôm thứ Sáu ngày 13/1 ấy, tôi tình cờ có mặt trên đỉnh Phan Xi Phăng. Khi chúng tôi đang thả hồn giữa muôn trùng gió núi thì được nghe loa phóng thanh thông báo đúng 10 giờ 30 phút sẽ diễn ra lễ thượng cờ đầu tiên. Các ông biết đấy, bốn mươi hai năm trong quân ngũ, từ lúc còn là anh lính binh nhì cho đến khi đeo hàm tướng, thứ hai đầu tuần nào tôi cũng tham gia chào cờ tại đơn vị, do đó việc chào cờ hàng tuần thành quen thuộc. Vậy mà khi nghe thông báo lễ thượng cờ đầu tiên sắp diễn ra mà chợt thấy lòng xao xuyến lạ và háo hức lạ. Thật vinh dự được tham dự lễ chào cờ đầu tiên trên đỉnh Phan Xi Phăng thiêng liêng”.
Ông Kim Lãm giải thích thêm: “Chọn thứ Sáu hàng tuần là vì tính từ ngày khánh thành cột cờ cho “thiêng” luôn. Còn chờ đến 10 giờ 30 phút là bởi đặc điểm thời tiết ở đỉnh Phan Xi Phăng buổi sáng thường có mưa và nếu không mưa thì mây mù còn đậm đặc. Thời điểm 10 giờ 30 phút là quãng thời gian trời quang mây tạnh. Có tiến hành vào giờ đó thì mọi người mới cùng nhau được ngắm lá cờ Tổ quốc tung bay chứ”.
2. Câu giải thích khiến tôi cay sống mũi. Tôi nhớ lại một sáng đầu hè, tháng 4/1976, sáng ấy bầu trời biên giới nơi đại đội tôi mới đến đóng quân mịt mù mưa mù. Mưa mù vốn là “đặc trưng” của vùng núi biên giới Đông Bắc. Đại đội chúng tôi trong đội hình Tiểu đoàn 6, Sư đoàn 325B, được điều động từ Lục Nam, Hà Bắc (cũ) lên xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh khi ấy. Chúng tôi có nhiệm vụ mở đường chạy theo đường biên giới. Con đường ấy như chúng tôi được phổ biến nhiệm vụ, sẽ là con đường tuần tra biên giới, nhưng quan trọng lại là con đường giúp bà con dân tộc ở xã Đồng Văn nói riêng ở huyện biên giới Bình Liêu nói chung lên nương vào rừng, vận chuyển hàng hóa và giao thương mở mang đời sống.
Buổi sáng thứ Hai đầu tiên nơi biên ải, đại đội tôi chào cờ đầu tuần theo quy định. Đúng 6 giờ 15 phút sáng, còi tập hợp vang lên thúc giục. Toàn đại đội xếp hàng trên vạt đồi đã được phát quang làm sân. Tiếng hô “Chào cờ. Chào” của Đại đội trưởng cất lên đĩnh đạc. Toàn đại đội trang nghiêm hát quốc ca. Tất cả chúng tôi cùng ngước mắt nhìn lên. Giữa mây mù đặc quánh. Chẳng một ai nhìn thấy lá cờ đâu cả. Chỉ có tiếng gió phần phật. Nhưng trong tim chúng tôi đã có lá cờ đỏ sao vàng đang tung bay nơi núi rừng biên ải mịt mùng.
3. Ký ức của tôi lập tức được mấy người trong đoàn xôn xao. Đại tá Xuân Hồng bồi hồi kể: “Tháng 4/2007, chúng tôi có chuyến công tác ngoài quần đảo Trường Sa. Đây là chuyến công tác Trường Sa đầu tiên của lãnh đạo và nhân dân Thủ đô Hà Nội. Chúng tôi như ùa lên đảo Trường Sa giao lưu cùng cán bộ chiến sĩ hải quân trên đảo, cho đến 20 giờ tối thì chúng tôi được phổ biến là: Đúng 21 giờ toàn đoàn sẽ rời đảo xuống tàu. Nghe thông báo ấy, anh em trong đoàn công tác có nhiều tâm tư. Điều tâm tư chính nhất và chung nhất là mọi người mong muốn được chào cờ Tổ quốc ngay trên đảo. Như thấu hiểu tâm tư trong đoàn nên đồng chí trưởng đoàn Nguyễn Quốc Triệu đã hội ý nhanh với đồng chí đảo trưởng là Thượng tá Nguyễn Đại Dương. Một quyết định nhanh chóng được đưa ra: Đoàn công tác Thủ đô Hà Nội và cán bộ chiến sĩ Trường Sa sẽ thực hiện nghi thức chào cờ ngay. Trước cột mốc chủ quyền trên đảo Trường Sa lớn đã có sẵn cột cờ. Một lá cờ mới tinh được đưa tới. Tất cả thành viên trong đoàn và cán bộ chiến sĩ trên đảo xếp hàng ngay ngắn. Thật diệu kỳ và linh thiêng. Khi lá cờ được kéo lên tới gần đỉnh cột cờ cũng là lúc bầu trời đêm trên đảo Trường Sa lớn bỗng quang trong lạ, ánh trăng đêm rằm tháng Ba âm lịch soi xuống sáng bừng khắp đảo. Cho đến bây giờ tôi vẫn như còn nguyên hình ảnh trang nghiêm và thiêng liêng ấy. Một lễ chào cờ dưới ánh trăng rằm. Và hình ảnh thiêng liêng và độc đáo của lễ chào cờ ấy mãi khắc ghi trong tâm trí chúng tôi”.
Đại tá Xuân Hồng kể xong, ông cúi lấy tay lau những giọt nước mắt đang lăn xuống gò má. Chúng tôi cùng im lặng xúc động. Đúng là trong cuộc đời mỗi người việc chào cờ Tổ quốc không là xa lạ nhưng được chào cờ Tổ quốc ở những thời điểm không ngờ tới, ở những nơi thiêng liêng thì không dễ gì có được.
Chợt trong lòng tôi ngân lên câu thơ: “Vút cao lên giữa mây mù/Và gió/Có bông hoa nở đỏ tim mình/Hồn Tổ quốc khắc nên hình đất nước/Khắc nên hình hài từ những mảnh ốc, mảnh sò/Từ những thân đước, thân tre, thân dừa, từ thanh gươm và cây súng lửa/Bởi đất nước chính là Tổ quốc”.