Góc ngẫm luận

Kết của những cái đầu

Vâng, là những cái đầu vào, đầu ra của sinh viên 560 trường đại học (ĐH), cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp trong cả nước sau mỗi kỳ thi ĐH và tốt nghiệp ra trường. Có thể nói áp lực được học ĐH đè nặng lên tâm trí mỗi học sinh ngay từ những năm học THPT. Tiêu chí trở thành sinh viên bằng mọi giá gần như là một chuẩn mực xã hội, mang tính bắt buộc hơn là niềm đam mê, yêu thích một ngành nghề từng là ước mơ, là khát vọng của các em.
Các bạn trẻ Thủ đô tìm hiểu thông tin tuyển dụng tại Ngày hội việc làm. Ảnh | Trần Hải
Các bạn trẻ Thủ đô tìm hiểu thông tin tuyển dụng tại Ngày hội việc làm. Ảnh | Trần Hải

Chuyện đầu vào và đầu ra của sinh viên đã không còn xa lạ. Thậm chí nó gần gũi, tách bạch ai cũng hiểu những tấm bằng tốt nghiệp dù là xuất sắc nhưng không thể bảo đảm cho những cử nhân, kỹ sư... miệt mài học tập có một việc làm. Còn trước đó, để đỗ ĐH đã là cả quá trình công phu đối với gia đình và cá nhân sinh viên. Đấy là chưa kể học hành tốn kém khiến nhiều gia đình nghèo lao đao mang công mắc nợ.

Tôi có một cô cháu họ quê ở Hà Nam. Gia đình thuộc diện buôn bán nhỏ, khá giả ở một vùng quê nghèo. Khi cháu thi đỗ ĐH Tài nguyên & Môi trường, gia đình rất mừng. Một phái đoàn lên nhà tôi để bàn bạc gửi gắm. Cháu ngoan ngoãn, chịu khó học và sau bốn năm nghiên bút đã cầm được tấm bằng tốt nghiệp. Trước đó, bố mẹ cháu có nguyện vọng cho cháu được công tác ở Hà Nội nên tôi bố trí nhập hộ khẩu cho cháu về nhà mình. Khi tôi hỏi ngành học của cháu có thể làm được những việc gì, cháu kê ra một danh sách dài mà nhìn lướt tôi biết đó là những công việc liên quan đến viên chức sự nghiệp. Và dù rất cố gắng trong khi bản thân có quá nhiều quan hệ thì xin việc cho cháu làm cán bộ nhà nước vô cùng khó khăn. Nhưng thật may cháu là người hiểu biết, bảo sẽ kiếm việc khác. Vậy thì tấm bằng sau bao nhiêu công sức và hy vọng của một gia đình kia sẽ như thế nào. Nó có được sử dụng hay vĩnh viễn chỉ còn là kỷ niệm, niềm tự hào của một gia đình?

Giáo dục bao giờ cũng là ngành đầy phức tạp. Đây là nơi tập trung nhiều nhà khoa học, nhiều chuyên viên vào bậc nhất nhì đất nước. Có không ít cuộc cải cách giáo dục đã xảy ra trong sự quan tâm đặc biệt của xã hội. Trong nhiều năm, chỉ tính riêng những dự án phổ cập rồi cải cách sách giáo khoa đã khiến dư luận dậy sóng và tiêu hao nhiều tiền của. Nhưng việc học lại ngày một nặng hơn. Đây là sự thật. Trẻ từ bậc tiểu học đã phải đi học thêm, dần mất đi tuổi thơ trong trẻo. Càng lên cao, việc học càng nghiêm trọng. Chương trình nhồi nhét trong giáo trình đã nặng, thầy cô còn dạy thêm. Mà chẳng có ai bắt buộc đâu nhé. Thậm chí phụ huynh còn phải ký cam kết cho con tự nguyện học. Cũng lạ là nếu chỉ một vế nhà trường và thầy cô ép buộc học thêm thì ra một nhẽ, đằng này đa phần phụ huynh bắt ép con mình học. Học văn hóa, học ngoại ngữ và sau cùng thì học thi cử. Tóm lại là cả nhà trường và gia đình phối thuộc ăn ý để ép buộc con em mình quay cuồng trong mê hồn trận của sự học. Trong vòng 30 năm qua, hai đứa con tôi cách nhau 12 tuổi đến trường là một quá trình tôi nhìn rõ cái sự học của chúng nặng đến thế nào. Cả hai đều bị loạn thị nặng và đeo kính từ lớp một. Chiếc cặp chất nặng sách vở đè lên đôi vai gầy guộc. Những kỳ nghỉ hè ngắn ngủi không đủ cho chúng đọc những cuốn sách cơ bản của một đời người phải đọc chứ đừng nói đến chơi bời, thăm thú, nghỉ ngơi. Thương con nhưng vợ chồng công chức đồng lương có hạn, chịu chẳng thể có cách nào khác để thoát khỏi sự đọa đày học hành trong môi trường công lập kia. Không ít gia đình có điều kiện đã cho con mình vào trường quốc tế hoặc du học. Thật may, con tôi ham học và tư chất chúng không đến nỗi nào nên cũng thích nghi được với áp lực học. Đứa lớn học sư phạm có một suất biên chế ở một trường THPT uy tín. Còn đứa bé cũng chuẩn bị thi đại học năm tới. Vẫn biết, Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết liệt cải cách kỳ thi đầu vào ĐH từ năm 2015 nhưng kết quả chưa được như kỳ vọng. Chúng ta chưa quên kỳ thi “hai trong một” năm ngoái tuy giảm thiểu nhiều hệ lụy và tốn kém, tiết kiệm được thời gian và tiền bạc nhưng còn để lại điều tiếng khi thí sinh và gia đình khổ sở trong việc rút hồ sơ, đổi nguyện vọng đăng ký trường học. Năm nay có rút kinh nghiệm điều chỉnh là chấp nhận theo nguyện vọng của thí sinh thứ tự lựa chọn các trường nhưng tuyệt đối không cho rút hồ sơ thay đổi nguyện vọng nữa. Nhiều chuyên gia cho rằng, với kết quả đầu vào của năm 2015 với tính chất mở nên cánh cửa ĐH không còn là chuyện khó khăn như những kỳ thi trước. Có rất nhiều thí sinh tuy trúng tuyển nhưng lại không đúng được theo sở nguyện bởi họ phải chọn trường phù hợp điểm thi của mình. Sự bắt buộc phải đỗ ĐH đã khiến không ít em vĩnh viễn mất đi ước mơ ngành nghề mình đã lựa chọn và ao ước.

Một nghịch lý là bằng mọi giá để đỗ ĐH nhưng khi tốt nghiệp, các tân kỹ sư, cử nhân... không phải ai cũng được toại nguyện công việc. Thậm chí có sinh viên xuất sắc thủ khoa cả đầu vào lẫn đầu ra nhưng cũng mòn mỏi không xin nổi việc làm. Đầu ra ngày càng chật hẹp, chỉ một số nghề đặc thù là khả dĩ hơn. Chủ trương đón hiền tài của các địa phương xem ra cũng chỉ ở trên diễn đàn và văn bản. Hiếm có trường hợp được rải thảm đón rước. Con số những người tốt nghiệp ĐH, sau ĐH thất nghiệp quý I năm 2015 là 178 nghìn người. Tính cả hàng trăm nghìn người lao động có trình độ cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp chưa có việc làm thì quả đáng lo ngại. Nhiều người tốt nghiệp ĐH vì miếng cơm manh áo đã phải giấu đi tấm bằng, hạ thấp trình độ để làm những việc có tính phổ thông. Vì đâu nên nỗi? Nền kinh tế chững lại vì khủng hoảng, nhiều công ty phá sản, cải cách hành chính, giảm biên chế và rất nhiều nguyên nhân khác khiến mặt bằng việc làm bị thu hẹp. Thêm nữa, số lượng sinh viên tốt nghiệp ngày một tăng bất chấp nhu cầu. Các trường ĐH công và tư bung ra rất nhiều, thậm chí ôm đồm ngành nghề đào tạo. Thế nên mới có chuyện cùng là cử nhân tài chính nhưng chỉ những ai tốt nghiệp ở trường uy tín mới được chấp nhận. Có một thực tế chưa được truy rốt ráo nguyên căn đó là chất lượng đào tạo. Những cải cách liên tục với những dự án, đề án khổng lồ cùng đội ngũ các nhà khoa học giáo dục tỏ ra bất lực trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Chương trình nặng về lý thuyết, ít thực tiễn. Một số doanh nghiệp xác nhận điều này khi họ phải đào tạo lại mới có thể sử dụng được người tuyển dụng. Tính hướng nghiệp trong nhà trường có lẽ chỉ lẻ tẻ ở một vài trường học như FPT. Số sinh viên trường này ngay khi còn đi học đã có thể tham gia các dự án và ký hợp đồng làm việc với các công ty, cho nên dễ dàng tìm được việc làm phù hợp khi tốt nghiệp. Cũng cần nói thêm cái sự đầu vào, đầu ra này chỉ có ở thành thị và những vùng đồng bằng, còn nó “vô hiệu” với vùng cao, vùng sâu vùng xa của đồng bào dân tộc nghèo đói và lạc hậu.

Mới đây Thông tư 32 của Bộ GD&ĐT quy định về trần tối đa của quy mô tuyển sinh đối với các trường ĐH từ năm 2016 đã vấp phải sự phản ứng dữ dội của hầu hết các trường. Lý do không có gì khó hiểu. Các trường ĐH bị khống chế đầu vào đương nhiên sẽ thiệt hại và họ viện dẫn lý do lãng phí cơ sở vật chất do dư thừa và nhiều giảng viên sẽ thất nghiệp. Đã rõ, với những lý do trên có thể khẳng định hệ thống giáo dục chỉ quan tâm đến đầu vào bất chấp kết quả đầu ra. Con số các cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp sẽ ngày một tăng hơn khó có lời giải trước mắt. Cái kết của những đầu vào, đầu ra chỉ có thể có khi Bộ GD&ĐT không còn cách nào khác là phải tự đổi mới mình. Bắt đầu từ con người đến những quyết sách.

Một nghịch lý là bằng mọi giá để đỗ đại học nhưng khi tốt nghiệp, các tân kỹ sư, cử nhân... không phải ai cũng được toại nguyện công việc.

Có thể bạn quan tâm