Y-a-sin (Lev Yashin, 1929-1990)
Ông là một trong những thủ môn xuất sắc nhất mọi thời đại, "người gác đền" duy nhất giành được Quả bóng Vàng danh giá của tạp chí "Bóng đá Pháp" (France Football, năm 1963).
Không chỉ là "bức màn thép" bảo đảm cho ngôi vô địch của ÐT Liên Xô (cũ) tại kỳ EURO đầu tiên (1960, và ngôi á quân kỳ EURO 1964 tiếp đó), Y-a-sin còn là người đặt nền móng cho vị trí thủ môn của bóng đá hiện đại, với sự chủ động chọn vị trí, khả năng làm chủ vòng cấm và chỉ huy hàng phòng ngự. Năm 1967, ông được nhận Huân chương Lê-nin cao quý, và năm 2000, LÐBÐ thế giới (FIFA) truy tặng ông danh hiệu "Thủ môn của thế kỷ XX".
Phác-két-ti (Giacinto Facchetti, 1942 -2006)
Trong một kỳ EURO kỳ lạ như EURO 1968, nơi đội chủ nhà I-ta-li-a vượt qua mọi đối thủ bằng quá nhiều may mắn (kể cả việc tung đồng xu trước ÐT Liên Xô), ít nhất cũng còn Phác-két-ti là một giá trị tuyệt đối được thừa nhận.
Ông chính là hình mẫu sơ khởi của một hậu vệ cánh hiện đại, với khả năng lên công về thủ lưỡng toàn. Cho đến hiện tại, Phác-két-ti vẫn là một trong những hậu vệ trái sáng chói nhất, người mở đường cho những R.Các-lốt (Roberto Carlos) hay Man-đi-ni (Paolo Maldini).
Bếch-ken-bau-ơ (Franz Beckenbauer, 11-9-1945)
EURO 1972 là khởi điểm của một kỷ nguyên huy hoàng mà ÐT Tây Ðức chinh phục mọi đỉnh cao, và dĩ nhiên, trong cả tập thể rực rỡ (VÐ World Cup 1974 hai năm sau đó), Bếch-ken-bau-ơ là ngôi sao nổi bật nhất.
"Hoàng đế" (Kaiser, biệt danh của ông) là người phát minh ra vị trí hậu vệ tự do (libero, hiểu một cách nôm na là người tổ chức tiến công ngay từ tuyến phòng ngự). Sở hữu kỹ năng cơ bản cực tốt, nhãn quan chiến thuật sắc sảo và cách xử lý vô cùng thông minh, Bếch-ken-bau-ơ là "bộ não" của ÐT Tây Ðức. Dưới tay ông và các đồng đội, ÐT Liên Xô (rất mạnh thời đó) đã thua "tâm phục khẩu phục" 0-3 ở trận chung kết. Từ xuất phát điểm là ông, bóng đá thế giới sau này có thêm rất nhiều những "nhà đạo diễn" xuất sắc ở hậu tuyến, như Sam-mơ (Mathias Sammer), hay khác đi một chút, như Piếc-lô (Andrea Pirlo).
Pa-nen-ka (Antonin Panenka, 2-12-1948)
Cú sục bóng đầy phiêu lưu từ chấm 11 m mà ông thực hiện trước thủ môn Mai-ơ (Sepp Maier) của ÐT Tây Ðức, giúp ÐT Tiệp Khắc (cũ) lần đầu đứng trên đỉnh châu Âu, có lẽ là khoảnh khắc lãng mạn nhất trong lịch sử các kỳ EURO.
Ðó là lần gần nhất đội bóng khét tiếng với thứ "tinh thần thép Giéc-manh" bị đánh bại ở một loạt sút luân lưu cân não tại một kỳ vận hội lớn. Các nhà ÐKVÐ thế giới khi đó đã bị chặn đứng bởi sự quả cảm của ÐT Tiệp Khắc, và chính thức phải chấp nhận thất bại với sự bình thản đến rợn người của Pa-nen-ka - cánh chim đầu đàn. Sau ông, rất nhiều danh thủ từng tái hiện cú sút đó, nhưng Pa-nen-ka - người đầu tiên sút 11 m như thế - vẫn luôn luôn là vô song.
Pla-ti-ni (Michel Platini, 21-6-1955)
Chín bàn thắng qua sáu trận đấu của EURO 1984, Pla-ti-ni - đương kim chủ tịch LÐBÐ châu Âu (UEFA) hiện tại - đã thiết lập một kỷ lục gần như không thể bị xô ngã cho các thế hệ hậu bối. Chân phải, chân trái, sút phạt và cả đánh đầu, cộng thêm khả năng lĩnh xướng siêu việt, thời điểm ấy, ông là ngôi sao tiến công toàn diện nhất, không phải chỉ ở châu Âu.
Ngôi vô địch ấy là "bức chiến quả" đầu tiên của bóng đá Pháp (cho dù người Pháp nghĩ ra mọi giải thưởng cho bóng đá thế giới). Kể từ đó, "đàn gà trống Gô-loa" thật sự mang dáng dấp của một "ông lớn" đích thực, và năm đó, tại đỉnh cao của sự nghiệp, Pla-ti-ni chính thức trở thành bất tử, trong tư cách là một trong những "số 10" phi thường nhất từng hiện diện.
Van Ba-xten (Marco Van Basten, 31-10-1964)
Có nhiều điểm tương đồng giữa Pla-ti-ni và Van Ba-xten, dù một người là tiền vệ nhạc trưởng, một người là trung phong. Họ đều đã từng ba lần đoạt Quả bóng Vàng châu Âu, đều không thể chinh phục thành công Cúp Thế giới, và đều để lại những dấu ấn vĩnh cửu tại EURO.
EURO 1988, Van Ba-xten là Vua phá lưới với năm bàn thắng. Một trong số đó, cú vô-lê siêu thực từ sát đường biên ngang vào lưới ÐT Liên Xô trong trận chung kết, là một trong những bàn thắng đẹp nhất của lịch sử bóng đá thế giới. Hà Lan khi ấy thật sự là "Cơn lốc màu da cam", và Van Ba-xten cũng thật sự xác lập cho mình một hình ảnh không bao giờ phai mờ trong trái tim người hâm mộ.
"Những chú lính chì dũng cảm"
Không thể giới hạn câu chuyện cổ tích tuyệt đẹp mà ÐT Ðan Mạch thực hiện năm 1992 vào tầm vóc của bất cứ cá nhân nào. Ðến dự EURO với tư cách là "những kẻ thế vai" (thay cho ÐT Nam Tư bị cấm thi đấu), "những chú lính chì dũng cảm" ấy đã cùng nhau lật nhào mọi dự đoán, đánh bại hết "đại gia" này đến ứng cử viên khác, với sức mạnh là tinh thần đồng đội và sự thanh thản, với nguồn cảm hứng là những ly vang ngọt trong tiếng dương cầm ở sảnh khách sạn mỗi đêm trước khi diễn ra trận đấu. Họ đã trở thành những nhà vô địch châu Âu một cách đầy bất ngờ và thú vị như thế, như một chuyến du lịch trên đường "tranh bá đồ vương".
Di-đan (Zinedine Zidane, 23-6-1972)
Cánh phượng hoàng bất tử ấy là quá khứ gần chói lọi nhất của bóng đá thế giới, và EURO 2000 là một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất về anh, sau chiến công oanh liệt tại World Cup 1998.
Vẫn là nhân vật chính trong hành trình vinh quang của ÐT Pháp, anh phủ cái bóng lồng lộng của mình lên cả giải đấu, cũng như thôi miên mọi khán giả bằng những động tác phi thường, đường bệ và quý phái. Cũng như Pla-ti-ni "soán ngôi" của ÐT Tây Ðức - nhà VÐ EURO 1980, Di-đan dẫn đầu các đồng đội đánh chiếm "ngai vàng" từ tay ÐT Ðức (VÐ EURO 1996), để đội bóng áo lam thật sự là số 1 trong quãng thời gian đó, cho dù trận chung kết nhọc nhằn với ÐT I-ta-li-a như một điềm gở báo trước trận chung kết Cúp Thế giới tức tưởi năm 2006.
"Cuồng phong đỏ"
Sau khi phải chấp nhận một nhà vô địch xấu xí, thiếu đẳng cấp và chóng bị quên lãng năm 2004 (ÐT Hy Lạp), rút cục cũng đã có một luồng gió mát trở lại với EURO 2008. Trong lần thứ hai đăng quang tại châu lục (sau lần đầu năm 1964), ÐT Tây Ban Nha, với một dàn cầu thủ tài năng vừa đạt độ chín, đã không chỉ làm sống lại tư tưởng bóng đá tiến công, mà còn hệ thống lại những khái niệm về nó.
Bao giờ họ cũng kiểm soát nhiều bóng hơn đối thủ, để liên tục nắm giữ thế chủ động, và cũng là một cách phòng ngự từ xa hữu hiệu. Tây Ban Nha không tiến công một cách điên cuồng, nhưng rất ít hàng thủ không bị mài mòn và để lộ sơ hở trước sự bền bỉ của họ. Họ không sở hữu một "người hùng" mang tính biểu tượng đích thực nào, nhưng mọi cá nhân trong guồng máy ấy đều có thể bùng nổ. Và đó là điểm khởi đầu của một thời kỳ hoàng kim tiếp nối đến tận lúc này, thời của "Cuồng phong đỏ" (La Furia Roja)...