Đông qua miền lau trắng

Sáng nay trời nhiều gió, thứ gió tri kỷ của mùa đông như biết cắt buốt da thịt người, rồi hồn nhiên giăng phếch phơ trên những khóm hoa lau cuối núi. Trời xám ngắt, con ngõ khô hanh phơi đầy lá. Đêm qua đông đã đổ hết mùa về. Mẹ dậy sớm hơn mọi hôm, lật đật vào bếp nhóm lửa, mặc dù bây giờ bếp nhóm xong cũng không còn ai ngồi sưởi nữa. Tôi thức dậy mặc áo len, áo bông thật ấm rồi thảnh thơi xuống sân. Bọn trẻ con cũng đã tung tăng ngoài ngõ với khăn áo, tất mũ kín người. Nhưng đó là thói quen của người Mường quê tôi mỗi khi đông đến. Nó đã ăn sâu vào tiềm thức những thế hệ như mẹ rồi.

Đông qua miền lau trắng

Từ hồi tôi còn bé, mỗi sớm mai gỡ mớ chăn rách lành bùng nhùng ra khỏi người là lao ngay vào bếp. Bất kỳ lúc nào ở đó cũng đã có sẵn bếp lửa ấm của mẹ. Ngày ấy, lũ trẻ miền núi chúng tôi không có nhiều áo ấm, mỗi đứa may ra có được một chiếc áo len, mặc nhiều mùa. Trời lạnh thì mặc chồng chận chiếc ngắn chiếc dài lên nhau, có bao nhiêu mặc hết. Vậy nhưng cũng chẳng làm bớt run rẩy những sớm mai nhiều gió. Nên dù thích hay bị bắt buộc, bếp lửa vẫn là nơi chúng tôi hay quây quần... Vậy mà thoáng cái đã thành kỷ niệm, thành một miền ký ức thiêng liêng xa xôi. Có lúc ngồi nghĩ lại thấy thú vị, có lúc lại thấy thương thương gì đó lắm. Nhưng dù là gì thì lúc này tôi cũng thấy may mắn, vì lũ trẻ ngoài kia, con tôi cháu tôi và bọn nhỏ hàng xóm nữa, đã không còn phải đi qua những mùa đông giống tôi trên cái xóm núi này. Nhưng cũng ngay giây phút ấy lòng tôi thoáng tái tê, ký ức xa chạm đến ký ức gần. Những hình ảnh, kỷ niệm của chuyến đi ngược Mường cùng đoàn thiện nguyện "Ngọc Lặc quê hương" cứ đeo đẳng tâm trí tôi.

Vâng, tôi đã thấy ở đó, mùa đông trong những ngôi nhà thông thốc gió, những bức vách rã rách bần bật thở. Cái lạnh nơi rừng núi đêm đêm xé vụn giấc ngủ trong chăn chiếu mỏng manh run rẩy. Tôi đã thấy ở đó, mùa đông hằn mình lên thân thể, mắt môi tím tái của bọn trẻ không có đủ áo quần mà mặc. Những cái áo mặc đến loang mầu cặn đất cũng không dám cởi ra để giặt. Tôi thấy ở đó, trên những chiếc sạp tre, chỉ có vài tấm bìa các-tông ghép lại, cả những bì phân bón được giặt sạch, khâu vào nhau trải lên thay chiếu... Và ở đó tôi đã thấy lòng mình xơ xởn như mái cọ cũ mèm của nhà ai kia.

Chuyến đi ấy đoàn chia làm năm nhóm nhỏ, về năm xã khó khăn của huyện. Tôi theo một nhóm về Đô Quăn, Đô Sơn, đó là hai thôn xa nhất của xã Thạch Lập và cũng là hai thôn khó khăn nhất của huyện tôi - huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Mặc dù cách trung tâm huyện chỉ chừng 20 km, nhưng vì chưa có đường giao thông, đi lại hết sức khó khăn, kéo theo đời sống kinh tế, văn hóa xã hội..., nơi đây vô cùng chật vật. Gửi xe đi bộ từ trụ sở ủy ban xã, dù chỉ khoảng 9 km đường, nhưng phải mất gần ba tiếng đồng hồ lội bộ, trèo dốc chúng tôi mới đến được nơi đã định.

Căn nhà nhỏ liêu xiêu, bốn bề vách rạc thông thốc gió, nằm bên chân núi giữa thôn Đô Quăn của gia đình anh Phạm Văn Thiện, là hộ chúng tôi được dẫn đến đầu tiên. Hình hài ngôi nhà cứ làm tôi ngờ hoặc khi vừa bước đến cổng. Tôi hỏi anh Lý - Bí thư đoàn xã tới lần thứ hai: "Đây là nhà ở của gia đình họ sao ạ? Không phải là chòi nương chứ anh?". Anh Lý cười nhẹ: "Thôi ta cứ vào trong rồi em sẽ rõ hơn". Được trưởng thôn thông báo sẽ có đoàn đến thăm và tặng quà, nên bữa ấy chủ nhà nghỉ nương. Anh Thiện chân quần ống thấp ống cao, chạy ra bê tấm phên nứa xê khỏi cửa rồi mừng rỡ mời đoàn vào nhà. Kỳ thực vào đến trong, tôi vẫn khó lắm để tự trả lời được câu hỏi cho mình. Lũ trẻ đang co ro nép vào nhau trên cái sạp giữa nhà, bên một đống chăn bùng nhùng cũ mèm, dường như là điều duy nhất làm tôi tin nó không phải là cái chòi nương. Anh Thiện mời khách ngồi nhưng thật bối rối, vì trong căn nhà chừng 40 mét vuông ấy ngoài cái sạp tre để nằm ngủ, không còn chỗ nào cho khách ngồi. Biết ý, anh chị em trong đoàn tản bớt ra ngoài sân. Chị vợ vội vàng vào bếp, mà thực ra đó chỉ là cái chái hiên không phên không vách, xách ấm nước và vài cái bát ra cho chồng tiếp khách, rồi chị bẽn lẽn sang ngồi cạnh anh.

Trong khi trưởng đoàn và cán bộ thôn nói chuyện, trao quà cho gia đình, tôi cùng vài người bạn bắt chuyện với bọn trẻ. Tôi hỏi đứa lớn nhất: "Sao lạnh thế này mà con lại mặc quần đùi thế kia?". "Có một cái quần dài thôi, mẹ giặt rồi...". Đứa bé vừa trả lời vừa cố kéo chăn đắp lên chân. Tôi hơi chột dạ, ngùi ngùi, rồi chuyển sang nói chuyện khác. Lát sau tôi quay ra hỏi chị chủ nhà: "Những ngày rét đậm, không đủ quần áo cho các cháu mặc rồi làm sao chị?". Chị chậm rãi: "Em cũng không biết làm thế nào cả, bắt chúng ngồi trong chăn, nhưng trẻ con nó chỉ ngồi được một lúc lại chạy chơi. Vợ chồng em thì bận đi nương. Có hôm về đến đã thấy đứa nào đứa nấy mải chơi đến tím tái. Thế rồi em phải vội vàng nhóm bếp cho chúng sưởi". Tôi định hỏi nữa nhưng lại thôi, mọi thứ đã phơi đầy mắt mình còn gì. Trên vách, chiếc sào nứa vắt một mớ quần áo lành rách lẫn lộn, vài ba cái còn mơi mới, hẳn đồ đó để dành cho chị lúc xuống chợ hay anh lúc đám xá tết nhất, mà ngày thường có lạnh mấy cũng chẳng dám mặc. Trên chiếc sạp chỉ có hai manh chiếu sờn trải liền nhau, và đống chăn, chừng hai cái chăn chiên và một chiếc chăn bông cũ. Nhìn bốn phía vách nứa xập xệ, thi thoảng được chắp xen bằng tấm ni-lông hay bì gai, bần bật theo gió, tôi bỗng nghĩ đến mình. Không giàu sang, nhưng áo đủ ấm thân, chăn đệm đủ chống chọi với mùa đông, thế mà vẫn sợ thứ mùa đông khắc nghiệt của vùng cao. Huống chi... Nghĩ rồi thấy thương những đêm lạnh thật dài ở cái xó núi này. Lòng mình chợt như se sắt gió.

Tôi không nhớ nổi tên những người đàn ông, đàn bà và những đứa trẻ đã gặp. Nhưng những gương mặt xám ngắt, những thân thể run rẩy và bộ dạng rúm ró khắc khổ, na ná như nhau thì đã hằn sâu vào tâm trí tôi từ lúc nào đó. Chị Phạm Thị Hoàn, mẹ của năm đứa con nhỏ ở cuối thôn Đô Quăn tâm sự: "Em sợ mùa đông lắm chị ạ, mình chịu sao cũng được, chứ nhìn bọn trẻ xót lắm, vợ chồng quanh năm nai lưng trên đồi cũng chỉ lo đong đủ gạo ngày hai bữa, sắm được cái áo cái quần cho bọn nhỏ cũng thật khó khăn". Tôi lặng im, nhìn chị rơm rớm nước mắt. Đứa bé chừng ba tuổi mặt tái nhợt, mũi dãi khô bết quánh hai má, trên người mặc một chiếc áo len đã ngắn và dễ chừng cả tuần chưa được giặt, con bé không mặc quần hoặc không có quần, đang cố rúc rúc vào người mẹ, như để bớt run khi cơn gió tạt thốc từ cửa vóngvào. Từng trải qua tuổi thơ nghèo khổ, và giờ cũng nuôi con, tôi nghe nỗi xót xa của người đàn bà đó đang chảy chạm tim mình.

Cuối ngày đoàn xuôi về Đô Sơn, kết thúc chuyến đi Thạch Lập trong gia đình chú Phạm Văn Hơn. Ngôi nhà họ ở là một căn sàn hai gian, nhỉnh hơn chiếc chòi nương một chút. Cũng chẳng có gì khác những gia đình chúng tôi đã đến, tài sản trong căn nhà trống hơ hoác của họ sao mà giống nhau. Vẫn là một sào nứa bên vách buồng vắt chung mớ quần áo, vẫn là một đống chăn chiếu cũ và một bếp lửa giữa nhà. Những bức vách cũng thật giống nhau, rách tướp chắp đủ thứ và biết thở bần bật theo gió núi, như cố tình xiết xéo lòng người. Nhà chú Hơn có tám đứa con, ba đứa lớn đã đi lấy chồng đứa đi làm thuê tận Nam. Vợ chồng chú giờ lo cho năm đứa nhỏ chưa đến tuổi lao động. Lúc chúng tôi đến, bọn trẻ đang leo nheo xúm tụm trong bếp. Hai đứa nhỉnh lớn ngồi hơ áo quần trên lửa. Tôi đến bên lân la hỏi chuyện: "Sao phải hơ lửa mà không đem phơi hả em?". Một đứa khẽ cười: "Phải làm thế này nó mới kịp khô để sáng mai mặc đi học ạ". \, hồi xưa mẹ cũng hay làm thế với quần áo chị em tôi... Mắt tôi cay xè y như ngày bé bị khói, nhớ xưa tôi hay chống cự việc ngồi bếp với lý do khói cay. Giờ nhìn bọn trẻ mắt tôi cay mà không phải vì khói.

Đoàn trở về lúc đã cạn ngày, dọc chân núi gió bắt đầu lên nhiều hơn, gió táp vào mặt người buốt ráp. Mọi người vừa đi vừa rôm rả cười nói, mang trong lòng những tâm tư và cảm xúc không giống nhau. Nhưng tôi biết, không ai quên những gương mặt hân hoan, hạnh phúc, những khóe mắt rưng rưng xúc động của bà con nghèo, khi nhận món quà nhỏ của đoàn thiện nguyện. Chỉ là những chiếc chăn bông không đắt tiền, những bì quần áo cũ, nhưng nó sẽ làm ấm mùa đông cho họ.

Ngay buổi tối hôm ấy đoàn tổng kết chương trình, tổ chức đốt lửa trại nho nhỏ bên bờ hồ xóm Chẹ. Ám ảnh tôi hơn cả là câu chuyện của anh Tứ, trưởng nhóm đi xã Ngọc Trung, kể về người đàn bà góa phụ tên Lan. Bà đã òa khóc khi đón nhận chiếu, chăn, đệm và quần của đoàn. Vì trước đó trong căn nhà xiêu xiêu, trống trơ ấy, trên hai chiếc sạp tre không có nổi một manh chiếu, chỉ có vài tấm bìa các-tông và bì gai vá lại để nằm, hai sạp hai manh chăn mỏng, ba mẹ con họ không biết đã gồng lên để đi qua bao mùa đông như thế?...

Chúng tôi ngồi nói với nhau thật nhiều về những cảnh đời, và thật nhiều về những niềm hạnh phúc của họ khi nhận món quà nhỏ của đoàn. Và tôi biết lòng ai cũng thấy ấm, vì từ đêm nay trong những căn nhà trống gió ấy sẽ có những giấc ngủ tròn đầy hơn.