Khác với ngành nghề khác, dĩ vãng là đặc ân của photographer. Lần giở những bức ảnh cũ kỹ như được xem lại một cuốn phim chỉ mình mình thấy, mình mình cảm nhận.
Nhiều khi nhớ đến nghẹt thở”.
Nhà quay phim, NSND Nguyễn Hữu Tuấn vừa mở một cuộc triển lãm ảnh nho nhỏ với cái tên giản dị Thư Đồng Văn. Để bước vào thế giới ảnh của ông, có lẽ, không gì ngắn gọn mà lại đầy đủ như status mà ông viết trên trang Facebook cá nhân của mình những ngày này hai năm trước. Đấy là tinh thần của ảnh Nguyễn Hữu Tuấn, được thể hiện bằng văn chương Nguyễn Hữu Tuấn, một người cầm máy trầm lặng - theo mọi nghĩa.
“Lùi về phía sau”
Nếu nói về chuỗi thành tựu nghệ thuật có được với điện ảnh, có lẽ, không một nhà quay phim Việt Nam nào nhiều “chiến tích” như Nguyễn Hữu Tuấn. Ông đã quay những bộ phim vào loại nổi tiếng nhất của các đạo diễn Việt Nam: Thị xã trong tầm tay, Thương nhớ đồng quê (Đặng Nhật Minh), Ngã ba Đồng Lộc, Bến không chồng (Lưu Trọng Ninh), Cây bạch đàn vô danh, Người đàn bà mộng du (Thanh Vân), những phim “khói lửa” tốn nhiều kinh phí như Hoa ban đỏ, những phim nghệ thuật đầu tay đầy tính thể nghiệm như Ngõ đàn bà. Ông cũng là nhà quay phim Việt Nam có nhiều cơ hội làm việc chung từ các đoàn làm phim lớn nước ngoài vào Việt Nam từ thuở ban đầu: Đông Dương, Người Mỹ trầm lặng... đến các dự án phim độc lập nhỏ lẻ của các đạo diễn trẻ phương Tây. Nếu một đạo diễn chỉ có thể làm “ông chủ” trong bộ phim “của mình”, một diễn viên chỉ có thể nổi tiếng khi hình ảnh xuất hiện thật ấn tượng trên màn bạc trong một vai diễn cụ thể, thì một quay phim như Nguyễn Hữu Tuấn có thể bình thản im lặng tủm tỉm tham gia, quan sát và thú vị với rất nhiều đạo diễn, đoàn làm phim, với nhiều phong cách, và âm thầm ghi dấu ấn rất riêng của mình.
Đã có những thập niên dài điện ảnh Việt Nam thật yên tâm về phần hình ảnh khi trên generique của một bộ phim có tên Nguyễn Hữu Tuấn. Dù ông chẳng bao giờ xuất đầu lộ diện lên báo hay trước đám đông. Cái sự lặng lẽ ấy, một phần có lẽ do nếp nhà.
Lý giải một cách đơn giản, dễ hiểu về lao động sáng tạo của người quay phim, ông Tuấn bảo: “Hãy nhìn thời gian vật chất mà mỗi thành phần làm phim bỏ ra cho một bộ phim, và thời gian sau đó người ta cần để tái tạo năng lượng, sẽ thấy vai trò của từng người trong bộ phim đó. Một đạo diễn cần hai, ba năm trung bình cho một phim, một quay phim cần một năm, một diễn viên chuyên nghiệp cần nửa năm, một diễn viên nghiệp dư vào vai phụ đầu tuần quay phim này, cuối tuần quay phim khác được rồi”. Và ông cười: “Ở các nền điện ảnh khác, thu nhập cũng tương ứng. Tức là một đạo diễn làm xong một phim có thể thoải mái sống hai, ba năm, quay phim thì một năm. À, còn tôi thì đừng hỏi”.
NSND Nguyễn Hữu Tuấn.
Người ở trong phố - người đi qua làng
Nguyễn Hữu Tuấn nổi tiếng với “dân chơi” sau triển lãm “Người đi qua làng” 1995. Đạo diễn Đặng Nhật Minh mang phim Thương nhớ đồng quê đi khắp các LHP lớn nhỏ khắp thế giới, còn người quay bộ phim đó, lặng lẽ gom những khoảng khắc thơ thẩn trên đường làng, trên cánh đồng, trong những con ngõ nhỏ nồng mùi bùn và phân trâu, trong những cuộc chuyện trò không đầu không cuối với những người dân nơi đoàn làm phim dừng chân suốt gần nửa năm trời, thành những tấm ảnh đen trắng cho triển lãm cá nhân đầu tiên của mình. Nó quá thành công đến nỗi “Người đi qua làng” thành biệt danh của ông, thay cho cái tên “Tuấn tít” ông mang từ bé.
Trước đó, 1994, ông cùng nhóm bạn thân đã có một cuộc triển lãm ảnh khác, rất ấn tượng và chịu chơi mang tên Trò chuyện tháng Tư, cuộc trò chuyện sang trọng đầy chất “dân chơi” ấy diễn ra hằng năm, trong suốt 5 năm trời, đã trở thành sự kiện nhiếp ảnh được mong chờ nhất trong năm, ở thời hoàng kim của các triển lãm ảnh nghệ thuật.
Nhưng ở các triển lãm, mỗi năm, Nguyễn Hữu Tuấn cũng chỉ góp một, hai bức. Ông tuân thủ luật chơi triệt để, bình đẳng tuyệt đối; trong cuộc trò chuyện, ai cũng là số một, ảnh ai cũng đẹp nhất.
Năm 1998, ông có một cuộc triển lãm nữa ở TP Hồ Chí Minh, chung với một nhiếp ảnh gia người Đức, đã mất. Một cuộc triển lãm thành công trên truyền thông và gây khá nhiều tranh luận trong giới nhiếp ảnh. Nhưng hỏi ông, ông nói ngắn gọn: “Tôi được mời, và tôi đưa ảnh cho gallery chọn, theo tiêu chí của họ”.
Và suốt những năm tháng ấy, ông vẫn theo các đoàn làm phim. Nếu không có phim, ông xách máy ảnh đi, hầu hết là đi một mình. Trong hàng nghìn ảnh của Nguyễn Hữu Tuấn, không thể tìm được một bức “theo trend”. Ảnh của ông không có thôn nữ má hồng, không có mẹ Việt Nam da hằn chân chim, mắt nhòa vì khóc con, không có trai tráng ngày hội xuân, không có đặc tả trẻ em miền núi mùa đông chân không đi dép, nứt nẻ và tím ngắt... Tất cả những gì ông chụp là những gì ông nhìn thấy, và giữ lại. Những khoảng khắc chờ đò của vài thiếu phụ, một vệt nắng sớm suýt chạm vành nón, một cây mận nở hoa bên chái ngôi nhà trình tường, một người đàn bà về góp giỗ chồng cũ đứng ngần ngại bên bậc cửa... Những khoảnh khắc mang tên Nguyễn Hữu Tuấn, và chúng được “chú thích” thêm bằng những câu chuyện kể tuyệt vời.
Người kể chuyện không chỉ bằng hình
Bốn năm nay, ông Tuấn “chơi phây búc”. Và khoảng hai năm nay, ông bắt đầu kể những câu chuyện của mình. Những câu chuyện đằng sau những bộ phim, đằng sau những tấm ảnh.
Những câu chuyện của Nguyễn Hữu Tuấn thực đến bàng hoàng, vì chúng có tên tuổi thời gian địa điểm thậm chí ông nói cả tên người liên quan, người chứng kiến. Và nó hay lạ lùng. Những ai đã đọc, đều có phần choáng váng vì một người viết hoàn toàn lãng tử, tay mơ lại có thể viết hay đến vậy. Cái hay không chỉ từ sự mộc mạc nữa, nó có hẳn một chiều sâu thăm thẳm của sự kìm nén, của nội lực, của văn hóa.
Một series chuyện ông kể về các đoàn làm phim từ Thị xã trong tầm tay, Ngã ba Đồng Lộc, Ngõ đàn bà... lại gợi lên những xúc cảm mạnh mẽ hơn. Lịch sử, không chỉ là lịch sử của ngành điện ảnh Việt Nam mà một quãng dài lịch sử của cả một dân tộc, thu nhỏ lại trong những nhân vật và các nghệ sĩ thể hiện những nhân vật ấy. Từ một cái góc trầm lặng và bình thản của riêng mình, Nguyễn Hữu Tuấn quan sát thật tỉ mỉ, tinh tế, và kể lại hết sức điềm đạm.
Rất nhiều lần, giữa các câu chuyện, bạn bè vào bình luận bằng những sự quan tâm mang tính tò mò và bức xúc: tại sao như vậy mà người trong cuộc vẫn chịu được, vẫn vượt qua, vẫn sống? Ông Tuấn điềm đạm bằng những câu trả lời ngắn và hóm, kiểu như “thì tính tôi thế”, hoặc “không nhất thiết phải coi đó là thật”, hoặc “đấy là ngày xưa, chứ giờ thì...”.
Đã có một nhà quay phim lừng lẫy, đã có một nghệ sĩ nhiếp ảnh tài hoa riêng biệt mang tên Nguyễn Hữu Tuấn. Và bây giờ dù ông có thích hay không, có chịu gom bản thảo lại để in hay cứ kệ nó với mạng ảo, thì rõ ràng, cứ vẫn đã có một người viết rất hấp dẫn và thấm thía cũng được gọi là Nguyễn Hữu Tuấn.