Đắm chìm trong thế giới nhạc phim

Chẳng thể tưởng tượng nổi, hình hài một bộ phim sẽ ra sao nếu thiếu vắng phần âm nhạc? Bởi không chỉ nâng bước, giúp cảm xúc của khán giả thăng hoa theo từng khuôn hình, âm nhạc trong phim - khi đạt tới đỉnh cao nghệ thuật, còn lưu lại những dấu ấn khó quên và trường tồn cùng năm tháng, như những tác phẩm bất hủ.

Adam Levine (phải) của nhóm Maroon 5 trong phim Begin Again.
Adam Levine (phải) của nhóm Maroon 5 trong phim Begin Again.

Muôn màu nhạc phim

Có nhiều loại âm nhạc trong phim. Thí dụ, những bộ phim nhạc kịch musical thì phần nhạc chiếm chủ yếu, lời thoại đôi khi được thay thế bởi lời hát, như Grease của thập niên 70. Kinh điển hơn có Singin’ in the Rain, Moulin Rouge. Sau này, xuất hiện thêm dạng phim truyền hình dài tập như Glee. Ở Việt Nam, cũng có những sản phẩm tương tự như series Bếp hát hoặc gần đây nhất là bộ phim điện ảnh Hy sinh đời trai của nhà sản xuất Trần Bảo Sơn.

Hai thập niên trước đó, nhạc phim thử nghiệm xuất hiện, với phần sáng tác chịu ảnh hưởng từ dòng nhạc blues-jazz của bậc thầy nhạc jazz Duke Ellington, trong bộ phim Anatomy of a Murder (sản xuất năm 1959). Kế đến là phần nhạc nền của các bộ phim không liên quan đến âm nhạc. Phần nhạc này cũng có một đối tượng khán giả nhất định và được xem như một hình thức nhạc cổ điển tân thời. Các bộ phim có ảnh hưởng sâu rộng trong văn hóa Mỹ như Star Wars cũng đồng thời có phần nhạc nền hết sức ấn tượng, được soạn bởi John Williams, do Dàn nhạc giao hưởng London trình bày. Các sáng tác của John Williams đã đánh dấu việc nhạc phim trở lại, với dàn nhạc giao hưởng hoành tráng, vốn rất phổ biến cuối những năm 70 của thế kỷ trước.

Phần nhạc nền giữ một vai trò khá quan trọng với phim, khi tạo được điểm nhấn cảm xúc trong từng phân đoạn. Tuy nhiên, khán giả thường ít để ý đến phần nhạc nền trong quá trình tập trung xem phim, dù những giai điệu vẫn len lỏi và lưu lại trong trí nhớ họ một cách vô thức. Những bản nhạc này, khi được thưởng thức độc lập vẫn tạo được giá trị riêng. Và dòng thác “hình ảnh” mà nó “miêu tả” trở nên khoáng đạt và tự do hơn trong tâm trí người nghe, khi không còn bị đóng khung bởi những hình ảnh như trong phim. Vì vậy, luôn có hẳn một thị trường, một lượng lớn người hâm mộ và cả những giải thưởng riêng biệt, cho phần nhạc nền không lời này.

Phần quen thuộc nhất và cũng được công chúng dễ yêu thích, dễ nhớ nhất là các ca khúc chủ đề - được sử dụng một phần, hoặc trọn vẹn trong phim. Rất nhiều ca khúc được sáng tác riêng cho một bộ phim. Và với những tác phẩm điện ảnh đình đám như series về điệp viên 007 James Bond hay các bộ phim bom tấn như Titanic, Lion King, Hoàng tử Ai Cập... thì được đặt hàng sáng tác và biểu diễn ca khúc chủ đề là một vinh dự lớn, hứa hẹn thành công. Tập phim về James Bond gần nhất là Skyfall có phần ca khúc cùng tên của Adele thành công ngoài sức tưởng tượng và trở thành ca khúc loạt phim 007 đầu tiên nhận được Oscar, dù trước đây từng có nhiều đề cử. Spectre – phần kế tiếp được tung ra trong tháng 10 năm nay có Writing’s on the Wall, do Sam Smith sáng tác và trình bày. Anh trở thành nam ca sĩ người Anh thứ hai có cơ hội khoe giọng trong phim 007, kể từ khi Tom Jones thể hiện ca khúc Thunderball cho tập phim cùng tên vào năm 1965.

Ngoài ra còn những album với phần nhạc lẫn phần thoại, được kết hợp cùng với các hiệu ứng âm thanh. Phần nhạc nền thỉnh thoảng chèn thêm những câu thoại như trong các phim Romeo & Juliet (năm 1968), The Wizard of Oz hoặc loạt phim về tiến sĩ khảo cổ học Indiana Jones. Đây là thể loại kén người nghe nhất, chỉ dành cho khán giả hâm mộ điện ảnh cuồng nhiệt, bởi thưởng thức nó tương tự như xem phim mà không có hình.



Những dấu ấn khó phai

Một số bản nhạc không lời trong phim đã thành công rực rỡ, sau đó được đặt lời và có đời sống riêng biệt ngoài khuôn hình. Từ thành công của phim Love story, bản nhạc không lời Theme from Love story đã được đặt lời thành (Where do I begin?) Love story và trở thành bản nhạc được rất nhiều ca sĩ nổi tiếng thể hiện. Hoặc giai điệu da diết trong phim Romeo & Juliet năm 1968 có tên chính thức là Love theme from Romeo & Juliet, vốn là bản nhạc không lời do Nina Rota sáng tác, được Henry Mancini chuyển soạn cho dàn nhạc hòa tấu. Sau khi phim thu được thành công vang dội, nó được đặt lời với tên gọi A time for us. Tương tự, nhạc phim The Godfather Love Theme trong phim Bố già, cũng do Nina Rota sáng tác đã mang một dáng vẻ mới, khi biến thành ca khúc nổi tiếng Speak Softly, Love.

Với một số bộ phim liên quan tới âm nhạc, phần ca khúc giữ vai trò quan trọng và là một thành tố trong phim, như trường hợp Lost Star trong phim Begin Again. Trong các phim kinh dị, ca khúc cũng có vai trò khá đặc biệt như We’ve only just begun trong 1408 hoặc các ca khúc của The Doors trong Deliver us from evil.

Việc sử dụng ca khúc có sẵn cho các tình huống đặc biệt trong phim rất thú vị. Khi được sử dụng khéo léo và đúng lúc, chúng sẽ trở thành những điểm nhấn tuyệt vời. Bên cạnh điện ảnh Mỹ, giới làm phim Hàn Quốc cũng có những bậc thầy trong việc sử dụng nhạc phim, cả trong điện ảnh lẫn truyền hình. Không thể nào quên được bài If của nhóm Bread được sử dụng đắc địa và hóm hỉnh ra sao trong Sex is zero của đạo diễn Yoon Je-kyoon.



Và những cặp bài trùng ăn ý

Trong việc sáng tác và biểu diễn nhạc nền cho phim, điện ảnh thế giới ghi nhận sự làm việc ăn ý của nhiều “cặp bài trùng” ấn tượng. Thí dụ, cứ Jerry Goldsmith sáng tác thì đương nhiên Arthur Morton chỉ huy. Danny Elfman viết nhạc thì Steve Bartek phải vung cây đũa dẫn dắt dàn nhạc. Ngoài ra, cũng có một số nhạc sĩ tự chuyển soạn và chỉ huy dàn nhạc trình diễn các tác phẩm của chính mình như Ennio Morricone - một tên tuổi gắn liền với các bộ phim cao bồi viễn Tây.

Hễ đạo diễn Tim Burton thì chắc chắn người làm nhạc phải là Danny Elfman. Hễ Darren Aronofsky đạo diễn thì chắc chắn nhạc phim sẽ thực hiện bởi Clint Mansell. Michael Bay sẽ là Steve Jablonsky, đơn giản vì họ đã có thành công qua nhiều phần phim Transformer hay trước đó là các phim kinh dị The Texas Chainsaw Massacre, The Amityville Horror, Friday the 13th... Đương nhiên, cũng có một số phim, Michael Bay thực hiện với nhạc sĩ khác như Trevor Rabin hay Hans Zimmer.

Sự cộng tác quen thuộc giữa đạo diễn và nhạc sĩ soạn nhạc đã có từ rất lâu. Thời phim trắng đen ở thập niên 30-40, không thể không biết đến cặp Michael Curtiz / Max Steiner. Họ là cộng sự không dưới 20 bộ phim, trong đó có tác phẩm kinh điển Casablanca. Bậc thầy phim anime Hayao Miyazaki, người sáng lập Studio Ghibli, cũng có cộng sự thân thiết là Joe Hisaishi. Những tác phẩm đình đám trong sự nghiệp của ông hầu hết được Joe Hisaishi đảm trách phần nhạc: Nausicaä của Thung lũng gió, Laputa: Lâu đài trên không trung, Người bạn hàng xóm Totoro của tôi , Kiki cô phù thủy nhỏ, Porco Rosso, Công chúa Mononoke, Lâu đài di động của Howl và đặc biệt là siêu phẩm Cuộc phiêu lưu của Chihiro vào thế giới linh hồn (vượt qua Titanic về tổng doanh thu ở Nhật). Ở Việt Nam, một số đạo diễn cũng có nhạc sĩ quen thuộc như đạo diễn Lưu Huỳnh sẽ kết hợp cùng Đức Trí, phim của Charlie Nguyễn dùng nhạc của Christopher Wong...

Điện ảnh cũng là một kênh phổ biến âm nhạc cực kỳ hiệu quả. Cộng hưởng từ hiệu ứng Paul Walker - nam tài tử điển trai đã mất trong một tai nạn xe hơi, trong phần mới nhất của loạt phim Fast & Furious (ảnh bên), ca khúc See you again đã trở thành hiện tượng, khi được nghe mọi lúc, mọi nơi. Nhờ phim truyền hình Người mẫu khi xưa mà Hold me của Ebba Forsberg trở thành một hit ở Việt Nam. Mối tình đầu biến Forever trở thành ca khúc gắn liền với nhóm rock Phần Lan Stratovarius, dù đó không phải là ca khúc phổ biến nhất của họ trên thế giới.

Những bản nhạc này, khi được thưởng thức độc lập vẫn tạo được giá trị riêng. Và dòng thác “hình ảnh” mà nó “miêu tả” trở nên khoáng đạt và tự do hơn trong tâm trí người nghe, khi không còn bị đóng khung bởi những hình ảnh như trong phim.