Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh:

Có những câu hỏi, ai cũng sẽ đôi lần phải đối mặt

“Chuyện ngõ nghèo” - cuốn tiểu thuyết vừa ra mắt của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh được nhận định như một cuốn nhật ký, tự sự thông qua nhân vật Nguyễn Hoàng làm nghề viết báo, kiêm nuôi lợn. Tác phẩm với lối viết xen lẫn hiện thực huyền ảo, trừu tượng, đem lại cho bạn đọc một góc nhìn về cuộc sống của một thời gian khó và sự tìm tòi về bản chất con người.

Có những câu hỏi, ai cũng sẽ đôi lần phải đối mặt

Suy ngẫm về nguồn gốc, bản chất con người

Có những câu hỏi, ai cũng sẽ đôi lần phải đối mặt ảnh 1

- Tiểu thuyết Chuyện ngõ nghèo đã được ông viết bắt nguồn từ cảm xúc nào?

- Có lẽ đó là thời gian khó nhất tại miền bắc sau chiến tranh. Miếng ăn trở thành một trong những mối quan tâm lo lắng nhất của đời sống con người. Và chuyện nuôi lợn tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống gia đình đã trở thành một phong trào phổ biến. Nhà nhà nuôi lợn, người người nuôi lợn. Không chỉ riêng nhà nghèo mới phải nuôi lợn, mà cả những người khá giả cũng nuôi lợn. Tôi đã nuôi lợn 10 năm bởi nhà có vợ và bốn con trai trong tuổi lớn. Nếu nói về lợn, tôi có thể viết thành sách được về kỹ thuật.

- Vâng, tiểu thuyết đã không dừng lại ở chuyện anh Hoàng nuôi lợn, mà cao hơn nữa, là sự chiêm nghiệm giữa con người và loài vật, có phải không thưa ông?

Có những câu hỏi, ai cũng sẽ đôi lần phải đối mặt ảnh 2

- Bắt nguồn từ câu: “Con người chẳng phải thiên thần, cũng không phải thú vật. Khốn thay ai đó muốn làm thiên thần thì lại ra thú vật” của Pascal. Tôi nghiền ngẫm câu đó. Từ một hiện thực là nhà tôi có nuôi một đàn lợn, trong đó có con lợn giống châu Phi ăn khỏe và lớn rất nhanh. Sự khác biệt của nó làm cho tôi suy nghĩ tới những manh nha về sự tha hóa của con người. Tôi tìm hiểu gốc rễ của vấn đề, về bản chất, tính thú vật của con người. Sử dụng điểm nhìn phân tâm học của Freud để nói về hành trình hỗn mang. Tức là con người luôn sống cả phần hữu thức và vô thức.

- Có nhà phê bình cho rằng, cuốn sách này là một sự đổi mới về cách viết, vậy ông đã tìm tòi tự đổi mới mình trong cách viết có khó khăn không?

- Tôi nghĩ, lúc đó văn chương thế giới cũng có khá nhiều khủng hoảng. Họ muốn đổi mới, nhà văn Liên Xô cũng đã đổi mới, ví như tác phẩm Khi đàn sếu bay qua, Người thứ 41… Tôi hồi đó là biên tập viên của tờ Văn nghệ quân đội, nên được đọc nhiều tác phẩm theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tôi nghĩ, mình nên tìm cách viết mới, thay đổi các quan niệm viết xưa cũ. Vốn là một người đọc, và hay được dịch các tư liệu văn học, triết học nước ngoài, nên tôi áp dụng những lối viết mới. Với tôi, văn chương nếu chỉ viết cái đẹp thôi thì không thể nào có sức thuyết phục được.

- Ông đã sử dụng thủ pháp những giấc mơ để chuyển tải phần vô thức của con người trong tác phẩm này?

- Đúng thế. Giấc mơ là sự nối dài của hiện thực. Phần vô thức là những gì con người không thực hiện được ngoài đời, họ bị áp lực và mang cả vào trong giấc mơ. Và giấc mơ không phải là kẻ xa lạ, giấc mơ phản ánh hiện thực đời sống của họ. Khi con người có nhiều ẩn ức, giấc mơ chính là phần ẩn ức tưởng như giấu kín đó. Tôi suy nghĩ về chất người, chất cao thượng của con người, và chất thú, sự bản năng của phần con trong người. Chính vì thế, đừng nghĩ đây là câu chuyện của một người tri thức trong thời đó, mà cao hơn nữa, là sự suy ngẫm về nguồn gốc, bản chất của con người.

- Cái nghèo trong tác phẩm này thật “ghê gớm”, nó đã được miêu tả như một thủ phạm triệt tiêu cả tình cảm cá nhân con người?

- Lúc đó, cái nghèo, và sự bí bách trong cuộc sống khiến cho người cầm bút bị coi là vô dụng. Câu hỏi của bà vợ trong truyện: “Anh viết làm gì? Nên vương nên tướng gì. Cũng chẳng ra cơm ra gạo. Chỉ là cát bụi mà thôi”. Câu đó đã làm cho nhân vật Hoàng đau đớn, bởi anh ấy thèm được viết, “không cưỡng nổi sự ham muốn ngồi trước trang giấy” để viết. Nhưng thực tế đời sống khó khăn đã khiến cho người ta bị áp lực, dẫn đến triệt tiêu mọi cảm xúc.

- Cuộc đối thoại giữa người và lợn nhằm muốn miêu tả cái gì thưa ông?

- Tôi cho rằng, điểm nhấn ở đây, đó là sự sùng bái bạo lực. Và hệ lụy của việc này là rất nguy hiểm. Khi tính dương ngùn ngụt bốc cao, người ta sẵn sàng đáp trả như ân trả ân, oán trả oán, bạo lực giải quyết bằng bạo lực. Tại sao không theo tư tưởng từ bi hỷ xả của đạo Phật để sửa chữa những thứ đạo lý đang bị tha hóa nghiêm trọng. Đó là điều tới giờ tôi vẫn canh cánh trong lòng.

- Vâng, trong truyện cũng có nhắc tới từ “làm gì” như một trường đoạn khá trăn trở, vậy từ tác phẩm này cho tới bây giờ, ông có còn phải tự hỏi “làm gì” nữa không?

- Tôi nghĩ, đây là câu hỏi của mọi tri thức, thời đại. Người trí thức lẫn người bình thường, ai cũng đôi lần tự đặt ra câu hỏi đó cho cuộc sống của mình. Có khi, nó vẫn còn lẩn khuất tới cuối đời, chỉ có khác nhau ở chỗ, mình đối mặt với nó ra sao mà thôi. Có thể nó không là vấn đề trọng tâm, có thể nó không còn khả năng làm cho mình phải nặng nề suy nghĩ, có thể nó là vấn đề mình giải quyết được tốt. Nhưng tôi nghĩ, càng hoàn cảnh, càng suy nghĩ về chuyện “làm gì”.

Làm tất cả, để được trải lòng với trang viết

- Giờ đây, đã ở tuổi 85, ông có thể kể về cái duyên tới với văn chương của mình không, thưa ông?

- Tôi thích văn chương từ bé. Ngày xưa, hiếm hoi sách quốc ngữ, tôi có người bạn, bố của bạn tôi có một cái hòm chứa toàn sách truyện như Tam Quốc diễn nghĩa, Thủy Hử… Mẹ tôi là người cũng thích đọc, nên tôi cũng có ít nhiều ảnh hưởng của bà. Tôi đọc Tự lực văn đoàn, sách hồng, truyền bá chữ quốc ngữ của nhà xuất bản Tân Dân. Nhóm Tự lực văn đoàn đã truyền bá chữ quốc ngữ qua các tác phẩm văn học, tiểu thuyết thứ bảy, và tôi say mê đọc tác phẩm của họ. Lớn lên, tôi học Pháp ngữ nên có được đọc các tác phẩm văn học, triết học Pháp…

- Ông còn nhớ tác phẩm đầu tiên của mình không?

- Đó là một câu chuyện về một anh bộ đội đã đi suốt đêm từ bến xe Kim Mã lên Sơn Tây để kịp về đơn vị học tập. Truyện ngắn đó được giải thưởng của báo Văn nghệ Quân đội. Sau đó, tôi bắt đầu viết nhiều, và tập hợp lại in thành tập truyện ngắn Rừng sâu, năm 1962.

- Sau Chuyện ngõ nghèo, ông còn tác phẩm nào đang viết hoặc sắp xuất bản nữa không?

- Còn nhiều vấn đề lắm, nhưng có lẽ, sức tôi đã cạn kiệt. Lực bất tòng tâm. Tuổi già, và bởi từ những năm 70 tuổi, tôi đã viết mấy cuốn khá nặng ký như Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa, nên đã cạn năng lượng. Bạn bè toàn bảo tôi: hình ngục nan đào, nghĩa là không chạy trốn được cái nghiệp viết. Nhưng tôi phải thầm cảm ơn cái việc say mê viết tới điên rồ ấy. Chính có sự điên rồ say mê ấy mà tôi mới viết mà để đấy. Để đến bây giờ còn có những cuốn sách này. Để có được nó, mỗi đêm tôi lên gác xép nhỏ, cố gắng ngồi viết dù ít hay nhiều. Ban ngày tôi lăn lộn, làm đủ nghề để sống, nào thợ may, dịch thuật, thợ khóa, gác đêm… Những chuyện ấy, tôi chẳng nề hà gì, miễn là để bảo đảm được mưu sinh trong cuộc sống, để hằng đêm, có thể trải lòng với trang viết của mình.

- Xin chân thành cảm ơn nhà văn và chúc ông mạnh khỏe.

Có thể bạn quan tâm