Chính sách nhiều, nhưng thiếu đồng bộ

Bên cạnh những kết quả tích cực, nổi bật đã đạt được, việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi còn những bất cập, khó khăn. Việc nhận diện đúng, trúng những tồn tại, hạn chế sẽ là căn cứ nền tảng để đưa ra các giải pháp phù hợp, phát huy hiệu quả nguồn lực đầu tư. Báo Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi ý kiến cùng Tiến sĩ Nguyễn Duy Thụy - Viện trưởng Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên chung quanh vấn đề này.
Tiến sĩ Nguyễn Duy Thụy - Viện trưởng Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên.
Tiến sĩ Nguyễn Duy Thụy - Viện trưởng Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên.

- Thưa ông, công tác chăm lo đời sống bà con vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi được Đảng, Nhà nước ta quan tâm như thế nào?

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (năm 1986), công tác dân tộc từng bước hòa nhập vào công cuộc đổi mới đất nước. Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ công tác dân tộc. Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 27/11/1989 về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế-xã hội miền núi; Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã thể chế hóa Nghị quyết của Đảng thành Quyết định số 72-HĐBT, ngày 13/3/1990 về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế-xã hội miền núi. Hai văn kiện này đã mở đường cho sự đổi mới về công tác dân tộc. Nhiều chương trình, chính sách, dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã ra đời như: Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020; Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; Chương trình 135 về phát triển kinh tế-xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135); Chương trình 30a về hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo (Chương trình 30a),...

Trong giai đoạn hiện nay, nhiều chính sách lớn về phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã được ban hành, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước thông qua các văn bản chỉ đạo như: Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới; các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI, XII, XIII của Đảng luôn xác định công tác dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, cấp bách, là nhiệm vụ của Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị. Đặc biệt, Quốc hội khóa XIV đã phê duyệt Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18/11/2019 về Phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030; Nghị quyết số 120/2020/QH14 ngày 19/6/2020 của Quốc hội Phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030; Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1014/QĐ-TTg ngày 14/7/2020 về thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030...

Ngoài ra, để thúc đẩy sự phát triển về kinh tế-xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số, Chính phủ cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp quy đề cập những biện pháp cụ thể đối với một số vùng đặc thù có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống như về việc định hướng dài hạn và những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế-xã hội vùng Tây Nguyên; về phát triển kinh tế-xã hội các tỉnh đặc biệt khó khăn ở vùng miền núi phía bắc; về phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nam Bộ. Việc thực hiện các chương trình, dự án của Nhà nước, bộ mặt vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã góp phần thay đổi tích cực, kết cấu hạ tầng ngày càng được hoàn thiện, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng cao,...

- Đâu là nguyên nhân khiến nhiều chính sách, chương trình ưu tiên chưa đạt được hiệu quả như kỳ vọng?

Bên cạnh các nguyên nhân khách quan, còn có những nguyên nhân chủ quan, đó là: sự không đồng bộ trong chính sách thường gặp ở nhóm chính sách hỗ trợ tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, phát triển sản xuất và những nhóm chính sách cần sự kết hợp của nhiều giải pháp hay có phạm vi rộng, liên quan nhiều lĩnh vực, nhiều bộ, ngành và địa phương. Có thể thấy, cơ chế thực thi chính sách phức tạp và thiếu đồng bộ trước hết thể hiện ở khâu tổ chức quản lý thực hiện. Thí dụ, như trùng lặp về đối tượng, nội dung và cơ quan triển khai thực hiện chính sách ở địa phương giữa Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo, Chương trình Nông thôn mới và Chương trình 135. Các chương trình này đều hướng tới mục đích chung là giảm nghèo và phát triển kinh tế-xã hội dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn. Mặc dù mỗi chương trình đều nêu trách nhiệm của từng bộ, ngành ở cấp trung ương, thậm chí nêu cả trách nhiệm của một số cấp chính quyền địa phương, song, hiệu quả của các chương trình, chính sách này thật sự chưa cao.

Đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn kinh tế-xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; ở những địa phương nghèo, chủ yếu nhận hỗ trợ ngân sách từ Trung ương, khó có thể lồng ghép các chương trình, dự án để thực hiện chính sách dân tộc, trong khi đó ngân sách Trung ương chưa bố trí được nguồn vốn riêng để thực hiện một số chính sách, do vậy không đạt được mục tiêu các đề án, chính sách đã được phê duyệt. Có thể kể đến như: Nghị định số 75/2015/NĐ-CP ngày 9/9/2015 của Chính phủ về cơ chế, chính sách bảo vệ và phát triển rừng, gắn với chính sách giảm nghèo nhanh, bền vững và hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2020, đạt được khoảng 18% nhu cầu vốn.

Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa các bộ, ngành trong xây dựng và phân bổ nguồn lực, kiểm tra đánh giá của một số chính sách chưa chặt chẽ; thiếu hệ thống chỉ tiêu thống kê nguồn lực đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả và hiệu quả chính sách dân tộc). Văn bản hướng dẫn của một số bộ, ngành về địa bàn thực hiện chính sách có điểm chưa thống nhất, chưa phù hợp tình hình thực tế...

Thi công mở rộng đường giao thông ở thôn Nậm Cắt, xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng, Lào Cai. Ảnh: TTXVN
Thi công mở rộng đường giao thông ở thôn Nậm Cắt, xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng, Lào Cai. Ảnh: TTXVN

- Vậy theo ông, để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, chúng ta cần phải làm gì?

Để phát huy hiệu quả nguồn lực đầu tư, cần tránh trùng lặp, chồng chéo đối tượng trong việc thực hiện các chương trình.

Chúng ta đang thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030. Thế nhưng, đây là chương trình rộng lớn và nằm ở địa bàn khó khăn, phức tạp; các dự án, các chính sách được tích hợp vào chương trình, bao gồm cả chính sách của giai đoạn trước còn hiệu lực. Do đó, chắc chắn sẽ có nhiều khó khăn gặp phải. Những tồn tại, khó khăn trong việc thực hiện Chương trình cũng được chính Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Hầu A Lềnh thẳng thắn chỉ ra tại phiên trả lời chất vấn trước Quốc hội ở Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV vừa diễn ra. Năm 2022, kết quả giải ngân thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia dân tộc thiểu số và miền núi trên cả nước đạt 5.721.233 triệu đồng, đạt tỷ lệ trung bình 43,76% so kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ giao. Con số này cho thấy, dù chúng ta đã đi được hơn một nửa chặng đường của Chương trình giai đoạn năm 2021-2025, nhưng tiến độ giải ngân lại rất chậm,… Những khó khăn như vậy, đòi hỏi cần phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành; phân quyền, phân cấp cho địa phương trong xây dựng, tổ chức thực hiện Chương trình phù hợp điều kiện, đặc điểm, tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương. Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc và hướng dẫn tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc cho địa phương,...

Nhìn từ thực tế, có rất nhiều việc cần phải thực hiện. Tuy nhiên, do nguồn lực có hạn nên chúng ta cần phải xác định rõ, việc nào cấp bách hơn thì ưu tiên giải quyết trước. Một trong những vấn đề cấp bách hàng đầu hiện nay chính là giải quyết vấn đề nhà ở, nơi ở và đất sản xuất bà con người đồng bào dân tộc thiểu số, giúp bà con an cư, lạc nghiệp, tránh tình trạng nay đây-mai đó, di cư từ hết tỉnh này qua tỉnh khác, kéo theo nhiều hệ lụy.

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

"Các chính sách dân tộc bao trùm nhiều lĩnh vực và do nhiều ngành quản lý nên cần tăng cường công tác phối hợp trong xây dựng và chỉ đạo tổ chức thực hiện; đổi mới công tác giám sát, đánh giá, quản lý theo mục tiêu chính sách; đồng thời xác định nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách dân tộc là công việc quan trọng, cơ bản, thường xuyên, lâu dài, đòi hỏi phải được tiến hành có lộ trình, kiên trì, nhất quán và không ngừng đổi mới, hoàn thiện", TS Nguyễn Duy Thụy - Viện trưởng Khoa học xã hội vùng Tây Nguyên.