Nghệ nhân ưu tú Trần Khánh Cẩm

Chân đất quạt mo đi tìm câu ví

Mỗi lần có show ví giặm ở Thủ đô Hà Nội hay Sài Gòn, người yêu thích loại hình dân ca này thường dò hỏi nhau: có ông già hát Ô lục soạn không? Ông già đó chính là nghệ nhân ưu tú Trần Khánh Cẩm, quê xã Kỳ Bắc- huyện Kỳ Anh (tỉnh Hà Tĩnh), người dành cả cuộc đời đi sưu tầm từng câu ví. Xuân này, ông vừa tròn tuổi 80.

Nghệ nhân Ưu tú Trần Khánh Cẩm (bên trái) trên sân khấu.
Nghệ nhân Ưu tú Trần Khánh Cẩm (bên trái) trên sân khấu.

Chiều cuối năm nắng rải nhẹ, chúng tôi từ TP Hà Tĩnh chạy xe 30 phút tới ngã ba Voi (huyện Kỳ Anh). Dừng xe hỏi bà chủ quán ven đường, bà đon đả chỉ nhà ông Cẩm, không quên dặn với theo: “Nhà có cây sương mòi trước cổng nhé!”.

Nghệ nhân Khánh Cẩm tóc trắng như cước ra tận cổng đón khách. Khách vừa gặp chủ nhà đã tấm tắc khen giọng nói ấm vang, bước đi nhanh nhẹn ở tuổi”xưa nay hiếm”. Ông Cẩm cười rổn rảng: “Chắc do tui thoải mái, lạc quan, thích hát, thích đi từ thời trẻ”. Bà Trần Thị Duyên, vợ ông, tay rót nước chè xanh, chêm vào: “Nhà đói ăn ông cũng kệ, chỉ lo hát hò, chi mà không trẻ...”. Cả nhà cười vang, không khí cởi mở, thân tình. Đỡ bát nước, ông Cẩm khoe: “Bà ấy là vợ thứ ba, kém tui hơn 20 tuổi. Ngày trước tui được lắm cô mê vì hát hay nhưng duyên số gập ghềnh, mấy đận giữa đường đứt gánh. Đến bà ấy, cũng vì mê hát mà thương rồi nên vợ chồng. Giờ, bà cũng hát trong câu lạc bộ ví giặm do tui khởi xướng...”.

Trong hương chè xanh thơm dịu, ấm nóng, câu chuyện về nghề cứ thế ngược nguồn cơn: “Cha tui mất khi tui 17 tuổi. Hai mẹ con sống với nhau trong nghèo đói nhưng vui. Tui thừa hưởng cái gen của cha mẹ về ca hát. Cha tui không chỉ thông thạo chữ Hán, tiếng Pháp mà còn giỏi đánh đàn, hát bội. Mẹ tui là cô đào xinh đẹp, hát chèo Kiều nức tiếng một vùng Kỳ Bắc xưa. Từ nhỏ tui được mẹ bày dạy cho nhiều làn điệu dân ca...”.

Lớn lên Khánh Cẩm tham gia văn nghệ trường học, thôn xã rồi được điều vào Đội văn hóa tuyên truyền của tỉnh Hà Tĩnh đi phục vụ sửa sai cải cách ruộng đất và xây dựng tổ đổi công hợp tác xã nông nghiệp tám huyện trong tỉnh. Năm 1960, ông được mời về Đoàn văn công Hà Tĩnh, đi biểu diễn khắp nơi, sang cả nước bạn Lào. Sau đó, ông được cử đi học lớp đạo diễn và diễn viên Trường Nghệ thuật sân khấu Trung ương, lớp kịch, thanh nhạc. Trở về ông đóng góp cho sự lớn mạnh của Đoàn văn công Hà Tĩnh lúc bấy giờ, vừa làm diễn viên, sáng tác vừa tham gia đạo diễn và thiết kế mỹ thuật. Ông trầm ngâm nhớ lại: “Có ai bây giờ hình dung được Đoàn văn công Hà Tĩnh khi đó đi diễn bằng hai chiếc xe bò, chở phông màn đạo cụ, máy nổ... Diễn viên đi bộ tám huyện trong tỉnh, đói khổ nhưng đi đến đâu được bà con chào đón đến đó. Phục vụ trên những trận địa pháo gian khổ, ăn cơm độn sắn, hóa trang phải dùng bột mì, nhọ nồi thay phấn sáp, vậy mà lời ca tiếng hát vẫn “át tiếng bom”.

Cuối tháng 12-1967, trên đường đi phục vụ chiến trường, Đoàn văn công Hà Tĩnh bị trúng bom tại cầu Cấm (Nghệ An), năm diễn viên hy sinh và một số người khác bị thương. Tuy may mắn thoát chết nhưng ngay lúc đó Khánh Cẩm nhận tin mẹ qua đời. Hoàn cảnh gia đình khó khăn, buộc ông phải xin nghỉ việc về quê. Niềm đam mê ca hát thôi thúc ông vận động bà con ở quê lập một đội văn nghệ. Ông lại sáng tác, đạo diễn rồi đi viết, vẽ theo yêu cầu của các cơ quan xí nghiệp trong huyện để có tiền trang trải hằng ngày. Cuộc sống thăng trầm, có lúc chồng chất khó khăn nhưng chưa một lần nghệ nhân Khánh Cẩm nản chí bỏ nghề. Ông nhiệt tình, năng nổ khơi dựng phong trào ca hát trong dân. Ông sáng tác, dàn dựng hàng trăm vở kịch, hàng chục ca khúc dân ca về Hà Tĩnh, phong trào văn nghệ của xã, của huyện vì thế nở rộ, trở thành hạt nhân của tỉnh.

Không chỉ đam mê sáng tác, biểu diễn, nghệ nhân Khánh Cẩm còn dành cả cuộc đời đi sưu tầm các làn điệu dân ca cổ. Ông là người có công lớn trong việc làm sống lại điệu hát sắc bùa và các làn điệu khác như hát ru, hát ví o Nhẫn, hát ví xay lúa. Mấy chục năm nay, hình ảnh một ông già trong bộ đồ nâu, quạt mo, với chiếc xe đạp rong ruổi trên những chặng đường ngược xuôi miền núi, miền biển đã trở nên quá quen thuộc với người dân các xã ở huyện Kỳ Anh (Hà Tĩnh). Hễ nghe bạn bè, đồng nghiệp hay ai đó mách ở xã nọ, xã kia có người già hay hát, có bài hò, điệu ví lạ tai là ông Cẩm lại lên đường, bất kể nắng mưa, có khi đi cả tháng không về nhà để tìm hiểu và ghi chép những làn điệu và lời ca cổ. Ông sợ chậm chân có thể một làn điệu không kịp ghi lại, một “kho báu” câu hát bị mất đi. Kỷ niệm mà ông nhớ mãi đó là năm 1976, khi được tin có cụ già hát sắc bùa rất hay ở xã Kỳ Sơn, ông vượt ba bốn chục cây số đến tận nơi. Lúc lội qua suối trời đổ mưa, nước chảy xiết, ông bị mắc lại giữa dòng cuồn cuộn, cho đến khi có người bên kia suối cứu. Vất vả hiểm nguy là thế nhưng đổi lại ông có cả kho tư liệu quý. Cho đến nay, ông đã sưu tầm được hàng trăm câu hát cổ và dựng được nhiều hoạt cảnh, vở diễn dân ca ví dặm từ những làn điệu đã sưu tầm. Tất cả được ông ghi âm, chép tay hoặc tự mày mò đánh máy để lưu giữ. Đi đâu vắng nhà, ông chỉ sợ mất mấy cuốn sổ và mấy cái băng ghi âm thấm đẫm mồ hôi công sức kia.

“Dân ca mình nó hay đến lạ lùng. Có người con gái nào hỏi người con trai mà hay, dí dỏm thế này không: “Ơ... nghe tin chàng thuộc sách Kinh thi, con trâu đực đi sau con trâu cái, hắn cười chi rứa chàng?”. Người con trai trả lời: “Ơ... em ơi, con trâu cái hắn cầu lực, con trâu đực hắn cầu tài; hắn cũng mong tôn tử nối nghiệp sinh nhai. Nhưng khi hắn trèo lên, hắn trật cẳng, hắn hổ ngai, hắn cười...”. Hoặc như người con gái gặp người con trai giữa đường, hát rằng: “Ơ... chứ anh ơi, mấy khi gặp nhau giữa đàng, mời các anh về nhà ta nhởi, có ghế bàn nước nôi...”. Người con trai đối đáp: “Ơ... chứ em ơi, em ơi, em có lòng thương, chứ cấy tơi đây cũng nhởi được chứ ghế giường mần chi...”. Đó cũng chính là những lời ví dặm cổ, độc đáo ông đã “nhặt” được trong những chuyến điền dã của mình.

Nghệ nhân Trần Khánh Cẩm trò chuyện cùng phóng viên Nhân Dân hằng tháng. Ảnh: Phan Cường

Cả đời ca hát, sưu tầm ví dặm, ông không quên truyền dạy cho các thế hệ cháu con bởi sợ dân ca bị mai một, lo nhạc ngoại quốc làm thế hệ trẻ xa rời âm nhạc dân tộc. “Tui phải đi ghi âm điệu hát của các ông bà tuổi trên 80. Tui sợ khi họ mất đi không còn ai truyền lại lời hay, điệu lạ nữa. Con cái tui đứa nào cũng được tui bày dạy ca hát, nên chúng đều hát hay, hay hát. Có đứa tham gia đoàn văn công tỉnh, đứa thì hát trong đội văn nghệ làng, xã. Khi có tâm hồn đẹp thì con người ắt sống tốt. Tui tin thế và dạy con như thế. May các cháu đều ngoan, hiếu thảo”.

Bà Duyên từ đầu buổi ngồi lặng nghe chồng chuyện trò với khách, giờ mới cất tiếng giãi bày: “Tết nay, ông nhà tui tròn 80 tuổi, cả đời đắm đuối với hát ca, sưu tầm ví dặm, đến bữa quên ăn, đêm hôm thức đến 2, 3 giờ sáng hì hụi ghi chép, nghiên cứu. Nhiều người bảo ông là nghệ nhân “ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng”.

Nắng đã xế, ngoài cửa xôn xao tiếng các cháu nội ngoại đi học về. Câu chuyện đành dừng lại. Nghệ nhân Trần Khánh Cẩm tiễn khách ra tận đầu ngõ. Bà Duyên vội cầm chiếc áo khoác vắt lên vai chồng, sợ cơn gió lạnh lúc trở trời. Mấy người lại nắc nỏm: “Nhất ông, được vợ chiều!”. Ông cười hóm hỉnh, ngâm câu hát trong Ô lục soạn chọc vui vợ, cũng để tiễn khách: Xấu tốt chi em lấy một ngài / Để vô trửa tiết giêng hai / Ngong vô chum thì chum có ló/ Ngó vô vại thì vại đầy khoai/ ôông vô xúc mủng đỗ/ Mụ vô xúc mớ khoai/ Nấu lên một nồi hai/ Bưng ra trửa cửa nhà ngoài/ Hai ôông mụ ngồi nhai/ Sướng bằng năm ô lục soạn/ Đẹp bằng mười ô lục soạn...”. Bài hát ấy mỗi khi lên sân khấu trong bộ đồ nâu gụ, chiếc quạt mo, đi chân đất, ông luôn nhập vai đến xuất thần. Và ông từng nói với chúng tôi, càng già thấy bài hát đó càng hay vì nó hợp gia cảnh vợ chồng ông, không giàu sang nhưng đầm ấm, hạnh phúc.