Khi động lực cũ đã tới giới hạn
7 giờ sáng, trong một nhà máy may ở Thành phố Hồ Chí Minh, hàng nghìn công nhân miệt mài bên những dây chuyền sản xuất. Chị Nguyễn Thị Hoa, công nhân có hơn 15 năm gắn bó với nghề, vừa rà lại từng đường chỉ vừa nói: “Mỗi ngày tôi may hàng trăm chiếc áo nhưng chưa bao giờ biết chúng được bán với giá bao nhiêu”. Câu nói ấy phần nào phản ánh vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu suốt nhiều năm qua.
Những chiếc áo được may tại Việt Nam nhưng thiết kế, nguyên liệu, công nghệ và thương hiệu đều thuộc về nước ngoài. Doanh nghiệp trong nước chủ yếu đảm nhận khâu gia công, chỉ giữ lại khoảng 10-15% giá trị sản phẩm sau khi trừ các chi phí trong chuỗi cung ứng.
Đó cũng là bức tranh thu nhỏ của mô hình tăng trưởng đã đồng hành với Việt Nam trong suốt gần 40 năm Đổi mới: Dựa vào lao động giá rẻ, đất đai, vốn đầu tư và khai thác tài nguyên. Mô hình này giúp đất nước thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và thoát nghèo, nhưng cũng bộc lộ giới hạn khi phần lớn giá trị gia tăng vẫn nằm ngoài Việt Nam.
Chỉ qua một nhà máy may, có thể thấy giới hạn của mô hình cũ đang dần hiện rõ. Khi tiền lương tăng lên, lợi thế cạnh tranh dựa vào chi phí lao động rẻ dần thu hẹp. Khi những quốc gia khác sẵn sàng cung cấp nhân công với giá thấp hơn, các đơn hàng cũng có thể dịch chuyển. Điều ở lại không phải là công nghệ lõi, thương hiệu, những bằng sáng chế, mà chủ yếu là các dây chuyền sản xuất tiêu tốn nhiều năng lượng và nguồn lực.
Đó là đặc điểm của mô hình dựa vào mở rộng đầu vào: Muốn tăng trưởng thì tăng vốn, tăng lao động, mở rộng đất đai, khai thác thêm tài nguyên. Mô hình này từng phát huy hiệu quả ở giai đoạn đầu, nhưng khi các nguồn lực dần cạn, hiệu quả đầu tư suy giảm, chi phí tăng lên trong khi giá trị gia tăng không tăng tương xứng.
Sau bốn thập niên, mô hình ấy đã đưa Việt Nam từ một quốc gia nghèo trở thành nước có thu nhập trung bình với tốc độ tăng GDP bình quân khoảng 6,5%/năm. Nhưng không có động lực nào có thể đưa một nền kinh tế tiến lên mãi. Khi lợi thế lao động giá rẻ, đất đai và tài nguyên dần thu hẹp, Việt Nam buộc phải tìm một động lực tăng trưởng mới.
Trong bối cảnh đó, câu hỏi được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV mang ý nghĩa chiến lược đối với tương lai đất nước: “Đất nước sẽ tạo ra của cải và sức cạnh tranh bằng cách nào trong dài hạn?”.
Đây chính là vấn đề trung tâm mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam (Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 28/7/2026) đưa ra lời giải. Nghị quyết này đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển của đất nước, xác lập mô hình phát triển mới dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Xác lập mô hình tăng trưởng mới, nâng cao năng suất lao động
Các nhà kinh tế có một cách rất trực quan để đo “sức khỏe” của mô hình tăng trưởng ấy. Đó là hệ số sử dụng vốn đầu tư (Incremental Capital - Output Ratio - ICOR) cho biết, cần bỏ ra bao nhiêu đồng vốn đầu tư tăng thêm để tạo ra một đồng sản lượng (GDP) tăng thêm.
Nhìn vào chỉ số này có thể thấy rõ hạn chế của mô hình tăng trưởng hiện nay. Giai đoạn 2016-2021, ICOR của Việt Nam lên tới khoảng 9,1 lần; những năm gần đây vẫn dao động 5,13-6 lần. Riêng khu vực kinh tế nhà nước có thời điểm lên tới 17,8 lần, cao gấp nhiều lần so Hàn Quốc hay Nhật Bản trong giai đoạn “cất cánh”, khi ICOR chỉ ở mức 3,2-3,5 lần.
Điều đó có nghĩa, để tạo ra cùng một đồng GDP, Việt Nam đang phải bỏ ra nhiều vốn hơn trước. Đằng sau những con số ấy là hiệu quả đầu tư suy giảm, nguồn lực bị phân tán, nhiều dự án kéo dài hoặc chậm phát huy hiệu quả, khiến không ít đồng vốn bị “giam” trong các công trình thay vì tiếp tục tạo ra của cải cho nền kinh tế.
TS Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, cho rằng, muốn đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam không thể tiếp tục dựa vào việc mở rộng đầu tư như trước, mà phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, đưa hệ số ICOR xuống dưới 4 lần.
Nếu mô hình cũ dựa vào việc có thêm vốn, thêm lao động và thêm nhà máy, thì mô hình mới hướng tới một mục tiêu khác: Mỗi người lao động tạo ra nhiều giá trị hơn, năng suất cao hơn. Đó là cốt lõi của mô hình tăng trưởng mới mà Nghị quyết số 19-NQ/TW xác lập. Thay vì mở rộng vốn, lao động và tài nguyên, tăng trưởng sẽ dựa vào khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực.
Thực tế, tăng trưởng của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào vốn và lao động. Giai đoạn 2015-2022, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) - chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn, lao động và trình độ công nghệ - mới đóng góp khoảng 29% tăng trưởng GDP, trong khi vốn và lao động vẫn chiếm tới 71%. Muốn duy trì tăng trưởng “hai con số” trong những năm tới, TFP phải tăng lên 50-55%, đồng thời năng suất lao động phải cải thiện khoảng 8,5% mỗi năm. Điều đó có nghĩa, động lực không thể tiếp tục dựa vào việc huy động thêm nguồn lực, mà phải đến từ việc mỗi người lao động tạo ra nhiều giá trị hơn nhờ khoa học-công nghệ.
Ở tuổi 42, chị Nguyễn Thị Hoa thừa nhận mình không còn đủ sức chạy theo định mức như hơn chục năm trước: “Nếu vẫn làm theo cách cũ thì rất khó trụ lại với nghề”. Với chị Hoa, năng suất không còn đến từ việc may nhanh hơn, mà từ những dây chuyền tự động và công nghệ giúp mỗi giờ làm việc tạo ra nhiều giá trị hơn.
PGS, TS Lê Xuân Bá, nguyên Viện trưởng Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (nay là Viện Nghiên cứu chính sách và chiến lược - Ban Chính sách, chiến lược Trung ương) cho rằng, khi dư địa mở rộng vốn và lao động dần cạn, năng suất sẽ trở thành động lực quyết định. Muốn vậy, khoa học-công nghệ phải thật sự đi vào sản xuất và thể chế không còn là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”.
Để mô hình tăng trưởng mới đi vào thực tiễn, phải tạo ra một hệ sinh thái đủ mạnh để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển. Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng kiến tạo, xóa bỏ những rào cản, chồng chéo của pháp luật, mạnh dạn áp dụng cơ chế thử nghiệm (sandbox) đối với các mô hình kinh doanh mới và bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
Cùng với đó, nguồn lực phải được dịch chuyển mạnh hơn từ đầu tư theo chiều rộng sang đầu tư cho tri thức. Không chỉ đầu tư cho đường sá, cầu cảng, mà còn cho các phòng thí nghiệm, trung tâm đổi mới sáng tạo, trường đại học nghiên cứu, hạ tầng số và hoạt động R&D. Đồng thời, ưu tiên đào tạo và thu hút đội ngũ nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn và công nghệ sinh học; xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với sự tham gia của Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp và nhà đầu tư.
Song song với đó là tái cơ cấu dòng vốn đầu tư theo hướng nâng cao hiệu quả thay vì chỉ mở rộng quy mô. Đầu tư công cần tập trung cho các công trình chiến lược có sức lan tỏa, trong khi thu hút FDI phải chuyển từ mục tiêu “nhiều dự án” sang “đúng dự án”, ưu tiên công nghệ cao, công nghệ xanh và có khả năng chuyển giao công nghệ, giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
TS Trần Văn, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, đánh giá quyết sách đổi mới mô hình phát triển tại Hội nghị Trung ương 3 là “bước chuyển chiến lược mang tính thời đại”. Theo ông Văn, giai đoạn phát triển mới đòi hỏi chuyển đổi đồng thời động lực tăng trưởng mới phải tri thức, đổi mới sáng tạo, phải vươn lên nấc thang giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu và triết lý phát triển lấy con người làm trung tâm, chủ thể và mục tiêu cao nhất.
Nghị quyết số 19-NQ/TW xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao. Tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo hướng đa tầng, đa cực. Phát triển nhanh lực lượng sản xuất mới, hiện đại; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo thật sự trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và động lực chủ yếu của tăng trưởng.