Bà Nguyễn Thị Cúc, Chủ tịch Hội Tư vấn thuế Việt Nam - đã có những phân tích thẳng thắn về việc vì sao cần bỏ dần thuế khoán và làm thế nào để chính sách thuế được thiết kế hợp lý, minh bạch, công bằng, vừa tạo thuận lợi cho người dân vừa góp phần phòng, chống tham nhũng.
Phóng viên: Thưa bà, việc chuyển từ cơ chế thuế khoán sang kê khai đối với hộ, cá nhân kinh doanh đang thu hút rất nhiều quan tâm, thậm chí gây tranh luận trong xã hội. Theo bà, đâu là căn nguyên sâu xa khiến cơ chế thuế khoán không còn phù hợp trong bối cảnh hiện nay?
Bà Nguyễn Thị Cúc: Theo tinh thần Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị và các nghị quyết của Quốc hội về phát triển kinh tế tư nhân, cơ chế thuế khoán đã được bãi bỏ, chuyển sang nộp thuế theo kê khai; hộ kinh doanh có doanh thu từ 1 tỷ đồng trở lên phải sử dụng hóa đơn điện tử kết nối máy tính tiền từ 1/7/2025 và đến đầu năm 2026 thì bỏ hoàn toàn thuế khoán.
Trong khi đó, thực tế cho thấy cơ chế khoán bộc lộ nhiều bất cập, gây thất thu thuế. Khi chuyển sang kê khai, đã phát hiện nhiều trường hợp doanh thu thực tế cao gấp nhiều lần so với doanh thu khai báo trước đây, thậm chí có những vụ việc vi phạm nghiêm trọng. Điều này cho thấy phương thức khoán không còn phù hợp trong bối cảnh số hóa và quản lý thuế hiện đại.
Thuế khoán từng phù hợp với trình độ phát triển kinh tế và điều kiện quản lý của những giai đoạn trước. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, khi chúng ta đẩy mạnh số hóa, ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo, thì việc kiểm tra, giám sát doanh thu đã có điều kiện thực hiện tốt hơn rất nhiều. Vì vậy, chuyển sang thuế theo kê khai là yêu cầu tất yếu.
Tuy nhiên, với hộ cá nhân kinh doanh, quá trình chuyển đổi này không hề dễ. Một phần vì chưa quen, một phần vì chưa hiểu đầy đủ chính sách. Có thời điểm, như đầu tháng 1 vừa qua, tại nhiều chợ đầu mối lớn, tiểu thương rơi vào trạng thái hoang mang. Khi Nghị định 70/2025/NĐ-CP bắt đầu được triển khai, không ít người lo ngại về nguồn gốc hàng hóa, sợ rủi ro pháp lý nên tạm thời đóng cửa kinh doanh. Dù hoạt động buôn bán sau đó dần trở lại, tâm lý bất an vẫn còn; nhiều tiểu thương phải mời chúng tôi xuống tận nơi để giải thích và qua trao đổi có thể thấy những hiểu nhầm về chính sách là khá phổ biến.
- Trong bối cảnh kinh tế còn nhiều bất định, theo bà đâu là giới hạn cần thiết của việc “siết thu” để vừa bảo đảm kỷ cương pháp luật về thuế, vừa không làm tổn thương động lực sản xuất-kinh doanh và niềm tin tuân thủ của người dân, doanh nghiệp?
Theo tôi, mấu chốt vẫn nằm ở chính sách thuế và phương thức quản lý thuế. Khi chính sách, quản lý thuế hợp lý, minh bạch, thống nhất, dễ thực hiện thì mức độ tuân thủ sẽ cao, và chính sự tuân thủ đó mới tạo ra nguồn thu bền vững. Quan trọng hơn, người dân cần hiểu đúng rằng thuế là nghĩa vụ đã được ghi nhận trong Hiến pháp, và việc nộp thuế đầy đủ, nghiêm túc cũng là một cách thể hiện trách nhiệm công dân, thậm chí là một biểu hiện rất cụ thể của lòng yêu nước. Khi hiểu được điều đó, người dân sẽ không còn nhìn thuế như một gánh nặng.
Quan sát ở nhiều quốc gia, tôi thấy rất rõ hai điều. Thứ nhất, người nộp thuế được xã hội tôn vinh. Có những doanh nhân, nghệ sĩ được biểu dương vì thực hiện nghĩa vụ thuế tốt, hình ảnh đó còn được sử dụng để tuyên truyền chống trốn thuế. Người nộp thuế cảm thấy tự hào, chứ không phải bị soi xét.
Thứ hai và không kém phần quan trọng, là thái độ của bộ máy nhà nước. Cán bộ, công chức phải thật sự tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ của mình. Cần nói rất thẳng thắn rằng, bộ máy nhà nước vận hành bằng nguồn thu chính từ thuế của người dân và doanh nghiệp. Khi nhận thức được điều đó, cách hành xử của cơ quan quản lý sẽ khác.
Vì vậy, không chỉ ngành thuế mà tất cả các cơ quan quản lý nhà nước từ đất đai, xây dựng, môi trường, an toàn thực phẩm, phòng cháy chữa cháy… đều phải đặt mục tiêu tạo thuận lợi lên hàng đầu. Thanh tra, kiểm tra là cần thiết, nhưng phải theo tinh thần hỗ trợ, hướng dẫn, phòng ngừa rủi ro, chứ không nên tạo cảm giác áp đặt khiến người dân, doanh nghiệp lo sợ.
Thực tế hiện nay, không ít hộ kinh doanh chia sẻ: khi còn là hộ cá thể thì ít bị “động” đến, nhưng khi chuyển lên doanh nghiệp thì nỗi lo lại tăng lên gấp nhiều lần. Họ lo bị kiểm tra chồng chéo: từ bảo hiểm xã hội, an toàn lao động, phòng cháy chữa cháy đến quyết toán thuế, thanh tra chuyên ngành, liên ngành… Mỗi lĩnh vực một đoàn, mỗi lần một yêu cầu khác nhau, khiến doanh nghiệp luôn trong tâm thế bất an.
Nếu thanh tra, kiểm tra chỉ làm người ta lo sợ, né tránh, thì điều đó vô hình trung làm suy giảm động lực tuân thủ và đi ngược lại mục tiêu nuôi dưỡng nguồn thu. Giới hạn cần thiết của việc “siết thu” chính là: thu đúng, thu đủ, thu minh bạch; kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm theo tiêu chí rủi ro; xử lý vi phạm nghiêm minh và công bằng; điều quan trọng nhất là tạo được niềm tin rằng Nhà nước đang đồng hành, chứ không đứng đối diện với người nộp thuế.
Từ đó đặt ra yêu cầu rất cụ thể: làm thế nào để Nghị quyết 68, với tinh thần không hình sự hóa, các quan hệ kinh tế, được thực thi trong thực tế chứ không chỉ dừng ở câu chữ. Mọi việc phải được cụ thể hóa bằng tiêu chí rõ ràng, để người dân, doanh nghiệp biết đâu là đúng, đâu là sai; để khi bất kỳ cơ quan nào vào thanh tra, kiểm tra cũng phải căn cứ vào những tiêu chí đó, không thể làm tùy tiện.
Đồng thời, phải có cơ chế phản biện. Người dân, doanh nghiệp cần có kênh chính thức để khẳng định quyền tuân thủ của mình, để những cuộc thanh tra, kiểm tra chỉ được thực hiện khi thật sự có căn cứ. Các chuẩn mực về kế toán, an toàn thực phẩm, điều kiện kinh doanh… phải minh bạch; nếu không, rất dễ dẫn đến tình trạng “chạy giấy”, chạy thủ tục.
Nhìn vào thực tế thời gian qua, từ sữa giả đến thực phẩm chức năng giả, thực phẩm bẩn… có thể thấy vấn đề không chỉ là thất thu thuế, mà còn là những hệ lụy nghiêm trọng đối với sức khỏe người dân, thậm chí ảnh hưởng đến cả một thế hệ. Điều đó cho thấy yêu cầu minh bạch phải được đặt ra cho toàn bộ nền kinh tế, chứ không chỉ riêng lĩnh vực thuế.
- Thưa bà, làm thế nào để vừa ngăn chặn tình trạng nhũng nhiễu trong quá trình thực thi chính sách thuế, vừa để chính bản thân công cụ thuế trở thành một hàng rào kỹ thuật hữu hiệu chống tham nhũng, minh bạch hóa tài sản trong nền kinh tế?
Có ý kiến lo ngại về tiêu cực, về sự thỏa hiệp giữa cán bộ thuế và người nộp thuế. Nhưng chính những bất cập đó là lý do phải bỏ cơ chế khoán. Trước đây, thuế khoán được thông báo theo năm, nên có trường hợp doanh thu thực tế cao nhưng có thể “thỏa thuận” để khoán doanh thu xuống mức thấp nhằm nộp thuế ít hơn, dù rằng quy định doanh thu thuế khoán là xuất phát từ đề xuất của hộ kinh doanh, có xem xét điều chỉnh thông qua Hội đồng tư vấn thuế xã-phường. Còn hiện nay, với chuyển đổi số và thuế điện tử, dư địa cho sự can thiệp đó gần như không còn. Người nộp thuế tự đăng ký, tự kê khai, tự nộp trên hệ thống điện tử, xuất hóa đơn điện tử và nộp thuế qua các nền tảng như eTax Mobile. Cán bộ thuế không trực tiếp “chạm” vào quy trình, còn cơ quan thuế chỉ giám sát doanh thu để quản lý rủi ro, phục vụ thanh tra, kiểm tra, chứ không phải để điều chỉnh doanh thu cho người nộp thuế.
Để minh bạch thu nhập, thì với những tài sản hình thành trong các giai đoạn trước, nếu không có dấu hiệu rửa tiền, vi phạm pháp luật thì nên công khai tài sản và không truy xét nguồn gốc. Nhưng từ thời điểm này trở đi, mọi khoản thu nhập phát sinh đều nên gắn với nghĩa vụ thuế của nguồn thu nhập. Khi chứng minh được thu nhập hợp pháp và nghĩa vụ thuế tương ứng, thì việc mua tài sản, nguồn vốn đầu tư tài chính… mới được coi là minh bạch.
Điều này không chỉ liên quan đến quản lý thuế mà còn gắn chặt với chính sách phòng, chống tham nhũng. Việc công khai tài sản và thời điểm công khai phải rõ ràng: tài sản do thừa kế, do trúng thưởng, do lao động, kinh doanh… đều phải có căn cứ. Nếu không làm nghiêm, sẽ có tình trạng người thì khai ít đi để tránh công khai, người lại khai tăng lên để hợp thức hóa tài sản về sau.
Muốn làm được việc minh bạch tài sản thì phải làm đồng bộ trong toàn xã hội, chứ không chỉ riêng cán bộ, công chức. Bởi nếu chỉ yêu cầu cán bộ kê khai mà tài sản lại đứng tên người thân thì cũng không giải quyết được vấn đề. Ở nhiều nước, việc quản lý tài sản là theo công dân, từ khi sinh ra đã có ghi nhận thừa kế, ủy quyền, giám hộ sở hữu, đất đai rất rõ ràng. Khi chúng tôi đi khảo sát, thấy rằng kể cả con cái họ cũng có tài sản được phân định rành mạch, đất của ai là của người đó, dữ liệu đầy đủ và minh bạch. Nếu làm được như vậy thì dù không thể triệt tiêu hoàn toàn việc làm giàu bất minh, nhưng chắc chắn sẽ giảm thiểu rất nhiều, tạo ra một môi trường minh bạch và công bằng hơn.
- Trong bối cảnh nhiều chính sách thuế mới được triển khai đồng thời, bà nhìn nhận bức tranh thu thuế năm 2026 ra sao?
Tôi cho rằng, dù trong năm 2026, mức điều tiết thuế tiếp tục giảm theo chính sách - như giảm thuế thu nhập cá nhân, tiếp tục giảm 2% thuế giá trị gia tăng, mở rộng ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa - nhưng thu ngân sách vẫn có thể giữ được đà ổn định.
Lý do là vì công tác quản lý thuế sẽ ngày càng tốt hơn, kể cả kinh doanh thương mại điện tử và nền tảng số. Trên cơ sở người nộp thuế tự khai, tự tính, tự nộp và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với số liệu kê khai. Còn cơ quan thuế thực hiện công tác tuyên truyền, hỗ trợ, xây dựng cơ sở dữ liệu, đồng thời tăng cường chức năng kiểm tra theo tiêu thức quản lý rủi ro, cưỡng chế khi cần thiết. Khi các khâu này được vận hành hài hòa, hiệu quả quản lý sẽ cao hơn rất nhiều.
Thời gian tới, bên cạnh hoàn thuế thu nhập cá nhân tự động; hoàn thuế giá trị gia tăng tự động, công khai nợ thuế... sẽ tiếp tục được triển khai. Khi thủ tục ngày càng thuận lợi, người nộp thuế yên tâm hơn, mức độ tuân thủ cao hơn, tốc độ xử lý nhanh hơn thì tình trạng thất thu thuế sẽ giảm đáng kể. Đây chính là nền tảng để vừa nuôi dưỡng nguồn thu bền vững, vừa tạo môi trường kinh doanh lành mạnh.
- Xin trân trọng cảm ơn bà!