Bóng ma ký ức

Minh họa: NGUYỄN MINH
Minh họa: NGUYỄN MINH

Về chuyện biểu tình, tôi chỉ từng có mặt trong một cuộc bạo loạn duy nhất: Ở Tuzla, Bosnia. Đó là ý của Sara. “Mình đến đó đi, lâu rồi em chưa quay lại”, nàng gợi ý khi chúng tôi bàn kế hoạch cho kỳ nghỉ giữa học kỳ. Chúng tôi rời bến Vienna-Erdberg lúc 6 giờ tối. Một trong số chuyến vẫn khởi hành mỗi ngày đúng 6 giờ, tỏa đi theo những tuyến khác nhau về Sarajevo, Zvornik hay Mostar. Ngót tám tiếng trên những xa lộ đêm, chúng tôi chẳng thấy gì của Slovenia và Croatia ngoài những hàng rào chắn ồn và lớp sương mù dày đặc. Chúng tôi ở nhờ nhà Vehid và Refika, bà con bên ngoại của Sara. Sara sững sờ trước sự thay đổi của Ismet, con trai họ, cậu ta trạc đôi mươi, mặt trông trẻ măng, nhưng thân hình do tập đấm bốc nên rắn rỏi một cách đáng kinh ngạc. “Biệt danh: Tiger”, cậu ta tự giới thiệu. Ngay khi đến nơi, tôi có một cảm giác bất an âm ỉ trong bụng, như thể vô thức linh cảm được gì đó. Chúng tôi bước xuống xe bus, xoa nắn cái cổ cứng đờ, khoác ba-lô lên vai rồi đi ra bãi đỗ xe, nơi Tiger đang chờ sẵn. Tôi có cảm giác như mình đang bước xuyên qua một trường điện từ. Những tia nắng cắt ngang bầu không khí lạnh buốt, tiếng còi hú vang vọng đâu đó từ xa. Không phải tôi, mà chính thành phố này mới là nguồn phát ra cảm giác căng thẳng ấy.

“Biểu tình chống chính phủ nổ ra từ hôm qua rồi”, Tiger nói, rồi chỉ về phía một tòa nhà cao màu xám. “Mọi chuyện xảy ra ở đó đấy, nếu có thời gian các cậu ghé mà xem”. Cậu ta thường mặc quần nỉ và áo ba lỗ, trông như phiên bản gầy nhưng rắn rỏi hơn của cha mình, cũng u uất chẳng kém, nhưng lại trở nên cực kỳ hoạt bát mỗi khi có cơ hội làm bất cứ việc gì, dù chỉ là đi câu cá ở hồ nước gần nhà. Refika đã cảnh báo không nên, vì các nhà máy xả thải ra đó, nhưng chẳng ích gì; bánh mì làm mồi đã được chuẩn bị sẵn, và chúng tôi thì đã lên xe rồi.

Tiger dẫn chúng tôi đi dự các buổi tiệc, chẳng hạn như bữa trên sân thượng của khu chung cư. Ở đó, bọn họ lần lượt nhắc đến những điều làm nên sự đặc biệt của Tuzla: Một thành phố đã tự vệ thành công, kể cả trước quân đội Serbia, trong cuộc chiến 20 năm về trước; thành phố mà nơi người Hồi giáo, người Croatia và người Serbia đã kề vai chiến đấu; và thành phố mà suốt nhiều thập kỷ nay, rap và hip hop vẫn được tôn vinh.

Trong một bữa tiệc, Sara khoác vai tôi, hít hà hơi thuốc cỏ, rồi thì thầm trong làn khói hăng hắc ấy: “Ở đây anh thấy như ở nhà, đúng không?”. Và nàng nói đúng. Tôi thích những đoạn video rung lắc được mở trên điện thoại trong các bữa tiệc, những thước phim quay ở sân sau với đủ mặt cả nhóm, thứ ngôn ngữ thô ráp, dòng chảy táo bạo, như thể rap đã chảy ngược về Brooklyn đầu thập niên 1990 để bắt đầu lại từ đầu. Và lần này, nếu không phải để làm cho đúng, thì ít nhất cũng để làm cho khác. Tôi cũng thích những dòng chữ chi chít trên tường phố và mái nhà.

Nhạc tiệc tùng đập rộn rã khắp sân thượng, như để thách thức cái rét thảm hại của tháng Hai. Bọn họ cười rộ khi thấy Sara và tôi ăn thịt nướng bằng dao nĩa thay vì ăn bốc kẹp với bánh mì. Các cô gái nâng ly hét lớn bảo chúng tôi điên rồ, giục chúng tôi phải chơi tới bến, còn đám con trai sau khi hít thuốc kích thích thì hẩy mũi lên cao như những con chồn đất giật mình báo động. Tiger kể cho tôi nghe về một người anh em họ ở Prijedor, miền bắc Bosnia, một người hùng tóc dài, nổi tiếng trong giới trẻ thành thị nhờ tài chơi guitar xuất chúng. Những ngón tay của anh nhảy múa trên dây đàn, dù là một khúc nhạc sướt mướt vào dịp sinh nhật bà ngoại, khi cả nhà quây quần bên bàn tiệc chiều, hay là điệu Roma cho vào đêm khuya, khi bà đã ngủ say. Tiger nói rằng suốt bốn năm liền, người anh em họ ấy luyện tập mỗi ngày, tới khi trở nên lão luyện. Anh đánh với độ chính xác đến từng milimét, chính những milimét ấy tạo nên sự khác biệt trong âm thanh và khiến các dây đàn rung lên theo những cách khác nhau. Mỗi lần sang thăm, Tiger đều say mê lắng nghe người anh em họ nói về việc tạo ra một không gian âm nhạc hình cầu, nơi có thể xoa dịu tất cả những tâm hồn đang buông mình theo những giai điệu funk sôi động hay blues trầm buồn của anh. Anh tin rằng con người vận hành như những sinh thể cộng hưởng; xương cốt, da thịt, tóc tai, hàng mi, móng tay, đôi môi; từng tế bào đều hấp thụ những rung động rồi phản ứng lại. Đầu năm 1992, người anh em họ ấy bị đưa đi. Những người mặc quân phục nói rằng chỉ là thẩm vấn thôi, không có gì cả, hai tiếng nữa sẽ được đưa về. Nhưng đêm đó anh không trở về, và những ngày sau cũng vậy. Khi gia đình không thể trì hoãn việc chạy trốn ra nước ngoài được nữa, mẹ anh mang theo cây đàn guitar, vì bà tin rằng con trai mình chỉ bị giam giữ do một sai sót hành chính nào đó, và sau khi hiểu lầm được làm sáng tỏ, anh sẽ sớm trở về đoàn tụ cùng họ.

“Giờ chắc là cây đàn ấy đang bỏ xó đâu đó trên một gác mái ở Thụy Điển”, Tiger nói.

Có một gã gây hấn sát lại gần tôi. “Mày từ Áo à”, hắn vừa lè nhè nói vừa chọc ngón tay vào ngực tôi, “tao thích bọn mày, lũ Quốc xã”. Tôi dùng chút tiếng Bosnia học lỏm được, buông một câu “jebem ti” (khốn kiếp), rồi đẩy hắn ra đầy lạnh lùng và mỉa mai. Hắn sững lại rồi phá lên cười khàn khàn, mặt đỏ bừng. Ở Vienna, trên đường đến chỗ Sara, tôi đi ngang qua một trụ quảng cáo ở Praterstern, hình ảnh tưởng niệm những người Do Thái bị bức hại sau năm 1938. Trên đó là những bức ảnh chụp đám đông cười nhạo vây quanh hai con người đang quỳ gối giữa lòng đường. Bài báo viết rằng một cặp vợ chồng Do Thái lớn tuổi - chính là hai người trong ảnh - đã bị ép phải chà rửa những khẩu hiệu chính trị trên mặt đường nhựa, ngay dưới chân Đài tưởng niệm Tegetthoff.

Một phụ nữ lớn tuổi đứng xem bức ảnh hỏi tôi có phải người Vienna không. Bà nói bằng tiếng Anh, rằng vừa nãy bà đứng trước một cánh cổng công viên khóa chặt, nhìn xuyên qua song sắt vào hàng cây đã được tỉa gọn, vào thảm cỏ, và xa hơn nữa là hai khối kiến trúc tối sẫm, đồ sộ mà cuốn cẩm nang du lịch cho biết đó là các tháp phòng không. Bà đã đứng đó khá lâu, chỉ để nhìn, dù chính bà cũng không hiểu vì sao mình lại chăm chú quan sát những công trình gợi lên cảm giác mơ hồ đầy đe dọa, chẳng khác gì ống khói đang nhả khói ở phía xa.

“Có lẽ là nhà máy đốt rác”, tôi xen vào. Sau đó, bà nói, bà đi tới đây, Praterstern, nơi cột quảng cáo với những bức hình đen trắng đã thu hút ánh nhìn của bà. Liệu có phải chỉ là một sự trùng hợp không, bà hỏi, trong lúc tản bộ lại chạm mặt đúng thứ này? Cha bà, con út trong một gia đình Do Thái ở quận Hai của Vienna, đã trốn thoát vào năm 1938, khi mới 11 tuổi, nhờ một chuyến Kindertransport (đợt di tản trẻ em Do Thái sang Anh). Ông hầu như không bao giờ nói nhiều về Vienna. Còn bà, lần đầu tiên đặt chân đến thành phố này, bà kể, lúc đi bộ từ phiến đá tưởng niệm gắn trong lòng vỉa hè này sang phiến khác, với niềm hy vọng mơ hồ rằng giữa những cái tên của những người Do Thái bị trục xuất và sát hại, được khắc vĩnh viễn trong sắc vàng sẫm ấy, bà sẽ tìm thấy tên những người thân của mình; sẽ tìm ra tòa nhà nơi người thân bị áp giải đi; hay có thể chạm vào một lịch sử mà cha bà từng sống qua và thấu hiểu khi mới 11 tuổi, mà bản thân bà đến giờ vẫn chưa thể nào lĩnh hội được.

Bà dõi theo ngón tay tôi khi tôi chỉ cho bà vị trí đại khái của Nordbahnhof xưa, nơi những đoàn tàu đã khởi hành, đưa người ta đến các trại hủy diệt. Như thể lơ lửng giữa không trung, chính bà cũng bị mắc kẹt giữa các thời đại: Hóa thành một bức ảnh đen trắng, trong đó là hình ảnh một người phụ nữ mặc trang phục thế kỷ hai mươi mốt, lang thang trong Vienna của năm 1938, và đôi mắt bà phản chiếu những phế tích của hai tháp phòng không.

NGUYỄN THỊ THÙY LINH

(Dịch từ tiếng Anh)