Nhớ lại khi bức tường Berlin sập đổ, kéo theo hàng ngàn nhà máy Đông Đức tan vỡ, gần bốn vạn lao động Việt Nam bỗng nhiên không còn việc làm. Từ năm 2000, nhiều người Việt, theo hiệp định đã quay về Tổ quốc, còn những người tình nguyện ở lại, cũng theo hiệp định, không chịu nhận năm ngàn D.m, nói như hình ảnh của Đỗ Chu, trong tập tùy bút mới đây, họ bất chợt như đàn chim lênh đênh trên sóng... Thực ra, khi ấy, họ không còn là đàn chim nữa, mà chỉ là những con chim đơn lẻ tan tác xa đàn, xa tổ. Các đội lao động Việt Nam tan vỡ, từng cá thể mạnh ai nấy sống, có liên kết cũng chỉ là hai người hay ba người cụm lại, cố tìm ra một cách làm ăn để tồn tại trên xứ người đã, rồi tính sau.
Gần hai vạn người Việt đã như thế, ở tư cách cá thể tràn ra đường phố, trải cái ni-lon bày trên đó ít hàng phía Tây mà dân Đông Đức cần như: bật lửa, đồng hồ và cả thuốc lá Marlboro vỏ mềm nhập lậu từ Thổ, từ Ba Lan, từ Sec hay từ máy bay của quân đội Nga v.v... Cái thời ấy, trong con mắt của nhiều người Đức, người Việt ta, đội quân bán lẻ lang thang (Reisesgeweber) bất đắc dĩ bỗng thoắt trở nên thứ dân nhập cư thương hại hơn là căm ghét. Bởi, một là, họ chịu chung thân phận như bao người Đức thất nghiệp, từ tư thế thợ khách hôm nao, cùng lao động ở một phân xưởng, một nhà máy, nay mất việc, nên cái nhìn ở phía bạn Đức chia sẻ hơn. Hai là, bởi, những thợ khách Việt Nam gầy gò, nhỏ bé sao có thể bền bỉ kiếm ăn trên băng giá, chịu cái lạnh có khi tới âm 25 độ, mà khi nào cũng cười cười nếu khách mua hàng chợt tới. Những đồng tiền đầy mồ hôi và thấm cả máu trong cuộc cạnh tranh mưu sinh.
Hai mươi bốn năm, những người xa quê đã tự giác nhận ra phải liên kết lại. Biết bao Hội đoàn người Việt ra đời, không chỉ là nơi gặp gỡ nhau ngày Lễ Tết, để chưa khi nào đám con xa quê nguôi nhớ quê hương, mà nó còn là một tổ chức đoàn kết sự đơn lẻ thành một sức mạnh, giúp nhau vượt qua những khó khăn. Hiện tại ở Đức, nếu tính cả Đông và Tây, có tới khoảng trên 700 hội đoàn của người Việt, với nhiều sinh hoạt rất đa dạng và phong phú. Nó không chỉ giúp hội viên về tình cảm về vật chất mà còn có đóng góp một phần cho đất nước khi thiên tai lũ lụt hay nhằm xóa đói, giảm nghèo. Và, cách đây gần hai năm, Hội liên hiệp người Việt toàn liên bang Đức đã ra đời. Dầu chưa có hoạt động đáng kể, nhưng nó đã manh nha một khát vọng thống nhất và đoàn kết của những đứa con xa xứ, làm nên tiếng nói chung của người Việt Nam tại CHLB Đức.
Hoạt động hội đoàn người Việt ở Đức mang nhu cầu cấp thiết, không chỉ hiện tại mà còn hướng tới tương lai. Hội những người Việt ở Leipzig, dù thành lập sau Hội Việt Nam ở Berlin, song lại là nơi đầu tiên tranh thủ được chính quyền thành phố Leipzig, đưa môn học tiếng Việt vào chương trình phổ thông trung học. Nước Đức có lợi từ việc này khi nhiều chuyên gia người Việt trở về Việt Nam thạo hai thứ tiếng, làm việc trong các tập đoàn kinh tế đang đầu tư vào Việt Nam. Người Việt cũng có lợi vì con em họ được học tiếng mẹ đẻ từ chính khóa, đỡ đi bao phiền lụy; khi tiếng mẹ đẻ được xác định, chính là chìa khóa để thế hệ thứ Hai và sau đó, không bao giờ quên đi nơi sinh ra ông bà, cha mẹ của chúng. Nhiều hội đoàn điển hình như phía Tây có tổ chức của chị Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, phía đông với Câu lạc bộ Vinaphunu của chị Hoài Thu, Berlin, tạo được uy tín rất cao trong chính quyền Đức.
Cũng theo sự lớn mạnh về hội đoàn ấy, sự kinh doanh của những con chim lênh đênh cũng trở thành một bộ phận kinh tế, được báo chí và truyền thông Đức quan tâm. Từ những người bán lẻ lang thang, giờ đây tại Đức đã có hàng chục thương hiệu Việt đáng kính nể nắm trong tay hàng loạt các quán ăn hay hệ thống bán buôn và dịch vụ lớn. Những thương hiệu như Nguyễn Văn Hiền, Trịnh Thị Mùi, Nguyễn Văn Định (con trai liệt sĩ Anh hùng quân đội Nguyễn Văn Xơ - Củ Chi), Tâm koch, Võ Văn Long với tập đoàn Thăng Long v.v... là những doanh nhân uy tín với giới doanh nghiệp tại Đức. Trung tâm bán buôn Đồng Xuân - Berlin của ông Nguyễn Văn Hiền vài năm nay được chọn làm điểm du lịch hấp dẫn cho du khách thế giới tới thủ đô Berlin là sự kiện mang lại hình ảnh thú vị cho người Việt hôm nay.
| Hai mươi bốn năm, những người xa quê đã tự giác nhận ra phải liên kết lại và biết bao Hội đoàn người Việt ra đờ |
Người Việt, từng bước một, đã xóa đi mặc cảm làm ăn chui lủi, núp dưới thương hiệu nước khác. Trong khoảng năm, bẩy năm gần đây, hệ thống bán lẻ tập trung ở ngành ăn uống dịch vụ đã mạnh dạn thay những tên hiệu China hay Honkon v.v..., bằng các tên hiệu quen thuộc, thuần Việt như:
Vỉa Hè, Tây Hồ quán, Hà Nội, Tràng An, Huế, Saigon v.v... Điều tưởng nho nhỏ này, không chỉ làm nên sự nổi tiếng về món ăn Việt, ít dầu hơn, nhiều rau, chất xơ, thích hợp với nhu cầu giảm cân, với khẩu vị mới của bạn Đức, mà cái biển hiệu tên thuần Việt treo trên hàng trăm quán ăn trên các đường phố trung tâm Berlin, còn rõ ra ý thức tự tôn dân tộc, tạo thành hệ thống bán lẻ và dịch vụ, một Thương hiệu Việt Nam tự hào và thách thức. Cách đây bốn năm, Thủ tướng Đức, bà Angela Merkel đã ghé thăm quán ăn Nem và Phở giữa trung tâm thành phố Leipzig của D.r Nguyễn Sỹ Phương. Hội bia toàn nước Đức ở Berlin, giờ đây hàng năm luôn có mặt bia Việt với sự tham gia đóng góp trình diễn của các nghệ sĩ trong nước và các nghệ sĩ quần chúng tại Đức. Những sự kiện tương tự như thế ít nhiều tác động vào diện mạo người Việt ở Đức, nó làm cho người Việt tự hào và người Đức thay đổi hẳn cách nhìn về người thợ khách Việt lam lũ ngày xưa...
Điều lo ngại lớn bây giờ của hơn trăm ngàn người Việt ở Đức không còn là miếng cơm manh áo nữa. Cũng không còn nữa sự thương nhớ ly quê dằng dặc, bởi như cầu truyền thông được thỏa mãn với VTV4, bởi đời sống đã ổn định với hiểu biết tốt về văn hóa và luật pháp nước bạn. Người Việt không còn là con chim lẻ bạn. Nó đã hình thành với Một cộng đồng lớn và sớm tập trung lo về thế hệ thứ Hai và thứ Ba sau hai mươi tư năm hình thành. Cách đây vài năm, Sứ quán Việt Nam tại Đức đã quan tâm tới việc dạy tiếng Việt. Đầu năm nay, Hội đoàn người Việt cùng Ban công tác cộng đồng đã phối hợp hội thảo nhằm kiến nghị đưa nhu cầu học tiếng Việt vào hệ thống phổ thông, trong những trường có đông con em học sinh Việt. Nếu dự án này thực hiện thì Berlin là thành phố thứ hai sau Leipzig, khai mở nỗi lo văn hóa gốc rễ của người Việt ở Đức.
Ngày hôm nay, trong con mắt nhiều người Đức, học trò Việt Nam là thế hệ đáng phục, khi tỷ lệ đỗ Gymnasyum cao nhất Đức, khi có em Thùy Dương 13 tuổi, hai lần đoạt giải thơ toàn châu Âu, khối nói tiếng Đức, giành giải nhất thơ toàn Đức, do nhà sách nổi tiếng Fifa phát động. Đó là Mai Linh từ nhỏ đã nổi tiếng với bàn tay tài hoa ở Hambuorg và, 25 tuổi là giáo viên ba học viện thiết kế đồ họa tại Đức v.v... Họ, những đứa bé thế hệ thứ Hai và thứ Ba - con cái những người năm xưa là thợ khách không chỉ làm rạng danh cha mẹ chúng mà còn làm rạng danh hai tiếng Việt Nam xưa nay vốn khiêm nhường. Thế hệ thứ Hai và thứ Ba tại Đức khá nhiều hứa hẹn nối theo bước những nghệ sĩ nổi tiếng bấy nay như nghệ sĩ piano Tôn Nữ Nguyệt Minh, Nghệ sĩ, giáo sư âm nhạc Đặng Văn Long, tiếp bước khá nhiều giáo viên, tiến sĩ, bác sĩ làm việc trong các viện nghiên cứu hay cơ quan quan trọng chính quyền Đức.
Hai mươi bốn năm là một thời gian không dài, nhưng những người Việt di dân vài ba thập kỷ nay ở Đức nói riêng và châu Âu nói chung, đại đa số từ gốc xuất khẩu lao động, đã vươn lên từ thân phận dạt trôi trở thành một khối vững chắc và tương đối ổn định, rõ hướng ở trời xa. Hy vọng rồi đây trong thế hệ nối tiếp sẽ xuất hiện nhiều con người Việt, vừa hiện đại, văn minh vừa sắc nét nhuần nhị một tâm hồn, tính cách văn hóa Việt, làm sáng danh hai tiếng Việt Nam ở xứ người.