Nhà giàn DK1 - Biểu tượng tinh thần thép

Bài 1: Những quyết định táo bạo

Gần 40 năm qua, hệ thống Nhà giàn DK1 sừng sững giữa biển trời như cột mốc khẳng định chủ quyền thềm lục địa thiêng liêng của Việt Nam. Trong chuyến vượt biển trước thềm xuân, chúng tôi đã có cơ hội tìm gặp những nhân chứng để ngược thời gian trở về giai đoạn ban đầu xây dựng nên “thành đồng” trên thềm lục địa phía nam Tổ quốc.

Nhà giàn thế hệ đầu tiên thiết kế dạng pông-tông đóng trên bãi cạn Phúc Tần. (Ảnh tư liệu)
Nhà giàn thế hệ đầu tiên thiết kế dạng pông-tông đóng trên bãi cạn Phúc Tần. (Ảnh tư liệu)

Sau sự kiện Gạc Ma vào tháng 3/1988, việc xây dựng hệ thống Nhà giàn DK1 là nhiệm vụ lớn lao, minh chứng hùng hồn, mạnh mẽ của quân và dân ta trong công cuộc bảo vệ đất nước.

Vang mãi lời căn dặn

Mỗi dòng hồi ức, mỗi câu chuyện của các nhân chứng lịch sử, những người đã xuất sắc trong thực thi nhiệm vụ với Tổ quốc còn ập òa tiếng sóng biển, tiếng gió thét gào của thời còn phải “dò bụng biển”, tìm đường... Dù tuổi đã cao, nhưng ông Ngô Thường San, nguyên Tổng Giám đốc Liên doanh Việt Nam - Liên Xô (Vietsovpetro) vẫn còn nhớ rõ thời gian cùng những người từng sát cánh “chân đồng da sắt” dựng xây nhà giàn. Ông nhớ lại: “Vào tháng 12/1988, tôi đang là Phó Tổng Giám đốc Vietsovpetro, cùng một số cán bộ được gặp Thượng tướng Ðào Ðình Luyện, khi đó là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam và Thiếu tướng Trần Bình, Chính ủy Bộ Tư lệnh Công binh. Tôi được nghe về tinh thần chiến đấu hết sức dũng cảm, ngoan cường và sự hy sinh anh dũng của cán bộ, chiến sĩ hải quân ta ở Gạc Ma. Cấp trên đã giao nhiệm vụ cho chúng tôi phải xây dựng được các cột mốc trên biển”.

Ngay sau cuộc gặp, ông San gọi tiến sĩ, kỹ sư Đặng Hữu Quý, Chánh Kỹ sư thiết kế (Viện Nghiên cứu Khoa học & Thiết kế dầu khí biển) lên bàn bạc. Sau hồi thảo luận, ông Quý khẳng định: “Việc xây dựng các cột mốc trên biển, góp phần bảo vệ chủ quyền đất nước, nên anh cứ tin tưởng anh em”.

Để bảo vệ thềm lục địa phía nam nước ta, nơi có trữ lượng dầu khí khổng lồ, khỏi nguy cơ bị xâm phạm, việc cắm các mốc chủ quyền lãnh hải trở thành một yêu cầu cấp bách. Do đó, Trung ương và Bộ Quốc phòng có chủ trương tiến hành xây dựng các công trình trên các bãi đá ngầm, với tên gọi “Trạm dịch vụ Kinh tế-Khoa học-Dịch vụ” (KT-KH-DV), gọi tắt là Nhà giàn DK1.

Việc thành lập ban điều hành được hoàn thiện rất nhanh. Thường trực Ban chỉ đạo Nhà nước là Thượng tướng Đào Đình Luyện; ông Ngô Thường San được giao làm Trưởng Ban, Tổng chỉ huy xây dựng Nhà giàn DK1; tiến sĩ Nguyễn Trọng Nhưng, Cục phó Xây lắp làm Phó trưởng Ban; thường trực Tổ chuyên viên là Đại tá, tiến sĩ Nguyễn Quang Ánh, và Đại tá Nguyễn Bá Phương (Viện Kỹ thuật công binh, Bộ Tư lệnh Công binh); tiến sĩ Đặng Hữu Quý, Chánh Kỹ sư thiết kế (Viện Nghiên cứu Khoa học & Thiết kế dầu khí biển) làm Chủ nhiệm thiết kế công trình DK1/1, DK1/2; kỹ sư Trần Thanh Quang, Phụ trách thi công ngoài biển…

Từ quyết tâm trong chỉ đạo của trung ương đến những nỗ lực của mỗi đơn vị, cá nhân, hình thành các "mũi nhọn" tiến hành công việc. Cụ thể như thăm dò lòng biển, khảo sát các bãi san hô đến thiết kế, tìm kiếm vật liệu... Theo chỉ đạo của cấp trên, Tư lệnh Quân chủng Hải quân Giáp Văn Cương yêu cầu Lữ đoàn 171 khảo sát, tìm ra sáu bãi đá ngầm san hô để lên phương án xây dựng các công trình “cột mốc” trên thềm lục địa phía nam. Những con tàu âm thầm lên đường, cưỡi sóng dò tìm. Song, các bãi đá ngầm khu vực Tư Chính có độ rỗng lớn, giòn, dễ vỡ, khả năng gắn kết vật liệu thấp. Thêm nữa, dòng chảy khu vực này rất mạnh, nhiều luồng phức tạp nên việc xây dựng được dự báo sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Mỗi lần đi xây một nhà giàn giống như tham gia một trận đánh, mọi người đều xác định tư tưởng cống hiến, làm tốt nhất nhiệm vụ của mình.

“Giờ các chuyên gia ngày ấy, người còn, người đã mất. Có được đôi lần thăm lại những công trình năm xưa, lòng tôi còn nguyên vẹn cảm xúc tự hào”, ông Quý chia sẻ.

cong-trinh-dk1-1-dau-tien-xay-dung-nam-1989-tai-truong-sa-5246.jpg
Công trình DK1/1 được xây dựng kiểu chân đế móng cọc. (Ảnh NVCC)

Kỳ tích về những cánh hoa trên sóng

Quyết tâm đã có, song vấn đề khó nhất lúc ấy là khâu thiết kế nhà giàn cũng như thi công trên biển, bởi đây là dạng công trình chưa có tiền lệ. Càng ngoài khơi xa, sóng gió càng lớn. Hàng vạn con sóng hung hăng như muốn cuốn phăng tất cả... Kỹ sư Đặng Hữu Quý tâm sự: “Khi nhận nhiệm vụ, tôi vừa mừng vừa lo. Mừng là vì bản thân được tin tưởng, giao trọng trách, còn lo lắng vì thử thách quá lớn. Chúng tôi đêm ngày họp bàn, tìm phương án phù hợp. Chưa có nơi nào xây dựng công trình như thế này để học hỏi”.

Sau nhiều ngày trăn trở, nghiên cứu, các kỹ sư đã vẽ ra hình hài nhà giàn. Đó là một công trình gồm ba khối chính: chân đế gắn xuống nền san hô bằng cọc, khối trung gian là nơi cập tàu, tiếp tế xăng dầu và trên cùng là block nhà ở. Toàn bộ công trình nặng 250 tấn, chiều cao từ đáy biển đến mái 37,5m. Phần block nhà ở có hình lục lăng, mỗi cạnh dài 5m, như những cánh hoa đang nở, để vinh danh các Anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Với tinh thần làm việc cấp tốc, cấp trên chỉ đạo các đơn vị phải xây dựng song song bốn nhà giàn. Vietsovpetro được giao làm hai nhà giàn DK1/1 và DK1/2, theo dạng chân đế móng cọc (chân đế giàn khoan) tại bãi ngầm Tư Chính, hoàn thành trong năm 1989. Còn Viện Nghiên cứu Khoa học & Thiết kế dầu khí biển (Bộ Giao thông vận tải) nhận nhiệm vụ làm hai nhà giàn DK1/3 và DK1/4, có chân đế theo kiểu pông-tông (đánh chìm sà lan và bơm đầy bê-tông) trên các bãi cạn Phúc Tần và Ba Kè. Sau khi nhà giàn được dựng lên, bộ đội hải quân phải ra trấn giữ ngay. Bãi ngầm Tư Chính có vị trí rất quan trọng trong xây dựng, phát triển kinh tế biển và công tác bảo vệ chủ quyền trên biển nước ta. Các chuyên gia xác định, phải tăng cường ba ca, bởi làm được Nhà giàn DK1/1 sẽ là tiền đề để triển khai xây dựng các nhà giàn khác. Trong quá trình thiết kế kỹ thuật và thiết kế thi công biển, nhóm thiết kế được sự quan tâm và góp ý của tiến sĩ Trần Ngọc Cảnh, Phó Viện trưởng Nghiên cứu Khoa học & Thiết kế dầu khí biển và một số chuyên gia Liên Xô.

Giai đoạn này nước ta thiếu trầm trọng các vật tư, ống thép lớn đặc chủng, nên phải tận dụng từ nguồn ống thép giàn khoan dầu khí. Ðể xây dựng hai nhà giàn chân đế theo kiểu móng cọc, ông Ngô Thường San đã đặt vấn đề với phía đối tác Liên Xô xin được sử dụng các ống chống khoan bằng thép đường kính lớn và các đoạn chân đế giàn khoan có sẵn, còn thừa trong kho vật tư; sử dụng tàu cẩu NPK-547 và Phú Quý, trong thời gian 10 ngày để thi công công trình. Ðề nghị này được nhiều chuyên gia trong Vietsovpetro đồng tình.

Song, khu vực thềm lục địa Việt Nam luôn chịu ảnh hưởng nặng nề bởi thời tiết thất thường. Hằng năm, từ tháng 6 đến tháng 12 liên tục có các cơn bão cấp 16, sóng biển cao 9-10m. Đại tá, tiến sĩ Nguyễn Quang Ánh cho biết: Các chuyên gia, chuyên viên được tổ chức tập huấn cấp tốc, cấp trên cũng lựa chọn hình thức thi công trọn gói để bảo đảm công việc được diễn ra nhanh nhất. Vượt lên mọi thách thức, Vietsovpetro đã điều hai tàu tiếp cận bãi ngầm Tư Chính, đo đạc sơ bộ địa hình, bình đồ đáy biển khu vực các bãi ngầm, dựa trên cơ sở hướng bão, thủy triều và dòng chảy, phác thảo, tính toán nhiều mô hình kết cấu nhà giàn sử dụng cọc thép, mô hình cọc thép kết hợp trọng lực hoặc có dây neo liên hoàn. Các biện pháp thi công ngoài biển phải bảo đảm tiến độ nhanh, nhưng bí mật. Sau 10 ngày lực lượng chuyên trách đã tìm ra vị trí để nhà giàn đóng chân.

Song thử thách lại tiếp tục gia tăng khi mà các thợ lặn phát hiện ba rãnh có bề rộng tới 12m, sâu khoảng 30m cắt dọc theo hướng bắc - nam, gây nhiều bất lợi cho việc xây dựng nhà giàn bởi tác động của dòng chảy. Kỹ sư Đỗ Xuân Phúc, Đội trưởng xây lắp Nhà giàn DK1, nhớ lại: “Trời ập tối nhanh, cả Ban Chỉ huy sang tàu Phú Quý bàn cách tìm bằng được khu vực hạ đặt Nhà giàn DK1/1 và DK1/2 trước khi trời sáng, nhưng phải đến 10 giờ sáng hôm sau mới khoanh vùng xong hai vị trí. Tàu của ta lập tức thả neo để khoan xuống tầng đáy san hô lấy mẫu”.

Hẳn không ít người khi ra thăm nhà giàn phải bật lên câu hỏi: Không hiểu công trình này được xây dựng thế nào? Làm móng đã khó, việc thi công phần thượng tầng (phần nhà nổi trên mặt nước) cũng không hề đơn giản. Phần này được làm theo cách thức ghép sẵn các mô-đun từ đất liền, sau đó cẩu ra biển lắp vào chân đế. Còn để làm được phần chân đế nhà giàn ngoài biển, các kỹ sư sử dụng những chiếc cọc thép, vốn là ống dẫn dầu được đóng xuống nền san hô. Thi công ở biển đã khó, thi công dưới lòng biển có nền san hô lại khó gấp nhiều lần. Trong quá trình thi công Nhà giàn DK1/1, ba cọc đầu xuyên được nền san hô, nhưng cọc số 4 mới xuống được một nửa thì bị gãy. Đã vậy, Ban Chỉ huy công trình luôn phải ứng phó với những tình huống phức tạp khác nữa đe dọa đến công tác thi công và tiến độ...

Với bao nỗ lực, chạy đua với thời gian cũng như những hiểm nguy rình rập ngoài biển khơi mênh mông, của tất cả các đơn vị, ngày 15/6/1989 hoàn thành nhà giàn đầu tiên tại bãi ngầm Phúc Tần (DK1/3); ngày 16/6/1989, hoàn thành Nhà giàn DK1/4; ngày 27/6/1989, hoàn thành Nhà giàn DK1/1. Những lá cờ đã no gió tung bay trên nóc nhà giàn, trong niềm vui khôn tả ánh lên trong mắt mỗi kỹ sư, công nhân... “Với chúng tôi, ở nơi đầy sóng gió, sự sống và cái chết cách nhau trong gang tấc như thế mà các đơn vị hoàn thành được những công trình để đời cho Tổ quốc, cắm mốc chủ quyền trên khu vực có tiềm năng rất lớn về kinh tế là thành công mang giá trị lịch sử”, Đại tá Nguyễn Quang Ánh bồi hồi chia sẻ.

(còn nữa)

Ngày 26/10/1988, Tư lệnh hải quân Giáp Văn Cương đã giao nhiệm vụ cho Lữ đoàn 171 phải chốt giữ, bảo vệ chủ quyền phía nam của Tổ quốc. Tư lệnh nói với chúng tôi, đây là nhiệm vụ rất quan trọng, chúng ta đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Trường Sa, với nhiệm vụ này, cũng phải hoàn thành như vậy. Lời căn dặn ấy vẫn còn vang vọng trong tâm trí chúng tôi dù trải qua bao nhiêu năm tháng đi nữa”.

Đại tá Phạm Xuân Hoa
Nguyên Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 171 (Vùng 2 Hải quân)