Văn hóa nhân cách Hồ Chí Minh và khát vọng biểu đạt của thơ

Thơ viết về Lãnh tụ, về những người có nhân cách lớn là một thử thách với bất cứ tác giả nào. Bằng kiến thức và sự trải nghiệm, bằng bản lĩnh của một người lính từng làm báo và đặc biệt là nguồn xúc cảm chân thành, Dâng Bác một niềm thơ của Nguyễn Hưng Hải đã khắc tạc được chân dung Bác vừa vĩ đại, cao sang nhưng cũng rất bình dị, gần gũi với mọi người.

Văn hóa nhân cách Hồ Chí Minh và khát vọng biểu đạt của thơ

Cũng như tập thơ đầu Bài thơ dâng Bác đạt giải A của Tỉnh ủy Phú Thọ, giải B của Ban Tuyên giáo Trung ương về "Sáng tác, quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh" đợt 1 (2011 - 2013), tập thơ thứ 2 Dâng Bác một niềm thơ(Hội LHVHNT Phú Thọ, xuất bản 2014) có thêm nhiều nét mới. Mới ở nội dung. Mới ở việc xâu chuỗi những ý tưởng thành tư tưởng. Mới ở việc soi chiếu các giá trị, mà cuộc đời Bác như một tấm gương lớn; tất cả đều phải soi vào đó để nhìn lại mình, tự chỉnh đốn; để cảnh báo và thức tỉnh.

Không phải đến bây giờ mà ngay từ tập thơ đầu tiên, tập Ban mai chóng mặt - Giải thưởng Hùng Vương của UBND tỉnh Vĩnh Phú (năm 1990), Nguyễn Hưng Hải đã sở hữu một giọng thơ đằm thắm, đôn hậu, giàu chất dân gian rất quý trong lớp trẻ (chữ của nhà thơ Hữu Thỉnh). Tâm niệm của anh là, mỗi bài thơ phải nói được một điều gì đó, một vấn đề gì đó. Nghĩa là thơ phải có tư tưởng. Cứ như thế, cùng với việc tiếp tục viết về quê hương, đất nước, về những người thương yêu ruột thịt, những năm gần đây, Nguyễn Hưng Hải dành nhiều thời gian, tâm sức và trí tuệ để viết về Bác, viết về người lính và chiến tranh cách mạng. Không nề hà bất cứ đề tài nào nhưng anh chủ tâm hướng ngòi bút về cảm xúc cội nguồn. Và anh đã lập được một căn cước cho thơ mình, đồng hành cùng với thế hệ các nhà thơ trưởng thành sau năm 1975 hòa nhập vào dòng thơ thế sự.

Với bốn tập thơ viết về Bác Hồ, trong đó có hai tập đã xuất bản, hai tập đã gửi tham dự "Cuộc vận động sáng tác các tác phẩm văn học nghệ thuật hướng đến kỷ niệm 125 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh" do Hội LHVHNT thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, có thể khẳng định: Nguyễn Hưng Hải là một trong những nhà thơ viết nhiều, viết hay về Bác trong cả nước hiện nay.

Trong bài thơ Không ai nghĩ Bác là lãnh tụ, anh viết: "Bác bắt tay Xta-lin, bắt tay Mao Trạch Đông/ Cũng như khi bắt tay những người dân quê Bác/ Nói tiếng Pháp như người Pháp/ Nói tiếng Anh như người Anh/ Tiếp người Pháp, người Anh Bác nói bằng tiếng Việt/ Giọng Nghệ An quê Bác gió Lào/ Bác vẫn ở nhà sàn, trồng cây quanh bờ ao/ Bạn với cá, với chim/ Cho chim ăn, cá lượn/ Vẫy bàn tay kéo cả trời thấp xuống/ Giơ bàn tay nâng dậy những chồi non/ Đi khắp cả năm châu/ Về thương một lối mòn/ Bàn tay Bác xóa đi nhiều khoảng cách/ Là ông Ké, anh Ba, già Thu, Hồ Chủ tịch/ Bác là người của mọi màu da/ Giữa Pa-ri, Luân Đôn Người không quên cọng rau muống, quả cà..."...

Chỉ bằng bấy nhiêu câu thơ, tác giả đã khái quát khá đầy đủ về văn hóa ứng xử của Bác Hồ. Đọc lên bất giác chúng ta liên tưởng ngay đến mặt bằng nhân cách và văn hóa ứng xử của con người trong xã hội ta hiện nay, nhất là đối với lớp trẻ từ 18 đến 30 tuổi, cái tuổi đang hình thành nhân cách, tuy không phải chịu đựng những thử thách khắc nghiệt của chiến tranh nhưng lại phải đứng trước những thách thức chưa từng có đối với lớp cha ông. Sự phân hóa đẳng cấp giàu nghèo trong xã hội, những tác động trực tiếp của nhu cầu mới được hình thành trong xã hội hiện đại, các hệ ý thức cả tiến bộ và lạc hậu đồng thời tác động. Những phức tạp của đời sống xã hội, những việc làm đen tối như tham nhũng, quan liêu, vô trách nhiệm "Sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi", làm hàng giả... đều tác động tiêu cực đến tư tưởng, tình cảm của con người, khiến cho nhận thức về giá trị của nhân cách trong xã hội có sự nhầm lẫn, ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách.

Hồ Chí Minh là sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta và tinh hoa văn hóa nhân loại, là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và nhân dân ta. Tấm gương đạo đức của Người là tấm gương đạo đức của một vĩ nhân, một người cộng sản vĩ đại nhưng đồng thời cũng là tấm gương đạo đức của một lãnh tụ cách mạng luôn gần gũi, bình dị, nhân ái, khoan dung, ai cũng có thể học tập làm theo. Qua thơ Nguyễn Hưng Hải, ta thấy ở Bác luôn toát lên niềm nhân hậu, sự công bằng, bác ái. Đêm văn nghệ ở nông trường Mộc Châu, chỗ ngồi xem, bàn ghế kê cái cao cái thấp khiến Bác không vui, và Người đã nhắc nhở: "Bác ngồi thế đằng sau xem thế nào/Thôi bỏ hết dãy bàn kê phía trước/Để tất cả mọi người cùng xem được/Sao lại kê chỗ thấp chỗ cao?".

Văn hóa ứng xử của Bác bộc lộ ngay từ những việc rất nhỏ, bình thường nhất. Một thói quen trong giới công quyền khá phổ biến và kéo dài như thứ bệnh mãn tính, đó là thói bênh che khuyết điểm, cái đáng đem ra xử lý công khai trước pháp luật để răn đe chung thì lại chỉ xử lý nội bộ theo kiểu "đóng cửa bảo nhau". Cái tai hại của thói quen này rất khó lường hết nhưng không dễ được khắc phục. Trong bài thơ Lời nhắc nhở của Ngườitác giả viết: "Đóng cửa bảo nhau là điều ta phải nghĩ/Nhưng cứ đóng cửa bảo nhau công quỹ sẽ còn gì ?". "Đóng cửa bảo nhau"là cái cách thường được ứng xử trong nội bộ gia đình, là một nét đẹp của văn hóa truyền thống. Nhưng nếu nét đẹp ấy bị lợi dụng làm công cụ cho "mối mọt"đục khoét thì đây lại là một thảm họa, trong trường hợp này thơ như một câu hỏi được đặt ra để mọi người cùng suy ngẫm trả lời.

Còn trong bài Chính phủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh có những câu thơ như một lời cảnh báo: "Chẳng có sự cách ngăn nào giữa các bậc hiền tài/Với một hiền tài đã ở bậc vĩ nhân như Bác/Cũng chẳng có sự khác biệt nào trong ở ăn công tác/Chính phủ Hồ Chí Minh là của đồng bào/Vẫn là sự tiếp nối những gì Bác đã bàn giao/ Sao giờ lắm tâm tư, lắm những phiền hà không làm sao giải thích/Thảm đỏ trải khắp nơi, đỏ thảm nhưng mặt người méo xệch.../ Có điều gì đã khác Bác ngày xưa/ Cái ngày mà các bậc trí nhân, hiền tài đều có mặt trong Chính phủ của Bác Hồ."- "Đỏ thảm nhưng mặt người méo xệch"là vì có tài, đức nhưng ngày nay xin việc mà không có "phong bì"dày cộm kèm theo thì vẫn khó được chấp nhận, khác với ngày xưa Bác Hồ thật sự trọng dụng nhân tài "vào vị trí xứng đáng". Còn "Mặt người méo xệch" nói lên cái thất vọng và sự đau buồn, ở đây có chất hài hước, ngoa ngôn theo cách bi hài, một phạm trù mĩ cảm. Trong đời sống hiện nay không hiếm những người hành vi của họ có nhiều khuất tất..., nhưng bề ngoài lại ra vẻ hãnh diện làm như mình luôn gương mẫu học tập và làm theo lời Bác.

Trong bài thơ Bác như là mọi người dân quê nhà,Nguyễn Hưng Hải viết theo cách "Thuốc đắng giã tật, sự thật mất lòng": "Bác là thần tượng vĩ nhân/Mà sao chẳng khác người dân quê nhà/Cũng chai tương, cũng quả cà/Cọng rau muống héo vắt qua đêm nghèo... Và,Nhớ quê thì mở to đài /Buồn vui chẳng để phiền ai điều gì/ Vênh vang lấy Bác làm vì/Liệu còn biết thẹn mỗi khi thăm Người...

Với khát vọng diễn đạt khái quát hình tượng Bác Hồ, trong bài thơ Bác là ông Ké bản mình Nguyễn Hưng Hải viết:"Ai ngờ ông Ké bản mình/Lại là Bác giữa Ba Đình mùa thu". "Ông Ké bản mình" là hình ảnh ông già thân thương, bậc cha ông gần gũi của mọi người trong bản, còn Bác giữa Ba Đình mùa thulà hình ảnh vị Chủ tịch nước, vị lãnh tụ của dân tộc. Hai hình ảnh hòa đồng trong một con người. Ở đây những mảnh rời trong cuộc sống bỗng hợp thành sự thống nhất mang ý nghĩa lớn lao. Ở đây bộc lộ một công cụ biểu đạt tế nhị đối với hiện thực đã đến từ chiều sâu cảm xúc.

So với các tập thơ trước thì ở Dâng Bác một niềm thơ, tư duy nghệ thuật của Nguyễn Hưng Hải có nhiều cách tân. Song, cái cốt ở đây vẫn là sự kết hợp giữa cảm xúc và lý trí, giữa thô ráp và biến ảo, giản dị mà sâu sắc. Nhờ vậy mà anh đã khắc tạc được chân dung Bác một cách sinh động.