- Xin đồng chí cho biết, quá trình chuyển đổi số ở Việt Nam đã đạt được những kết quả như thế nào?
- Với ba trụ cột chính là phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, Việt Nam là một trong những quốc gia trên thế giới tiên phong xây dựng và ban hành Chương trình chuyển đổi số quốc gia nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới và bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
Đến nay, 100% số các cơ quan nhà nước cấp bộ, ngành trung ương, cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã có cổng, trang thông tin điện tử để cung cấp thông tin, dịch vụ công trực tuyến cho người dân, doanh nghiệp; tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 trung bình trên cả nước đến tháng 9/2021 đạt hơn 48%; Cổng Dịch vụ công quốc gia đã cung cấp hơn 3.100 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4; tỷ lệ văn bản điện tử trao đổi giữa các cơ quan nhà nước tăng đều hằng năm, đạt mức bão hòa 90,8% năm 2020…
Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Việt Nam theo đánh giá của Liên hợp quốc trong 193 quốc gia từ năm 2014 đến năm 2020 tăng 13 bậc, từ xếp hạng thứ 99 lên xếp hạng thứ 86. Việt Nam đã thuộc nhóm 25/193 quốc gia dẫn đầu về chỉ số an toàn, an ninh mạng do Liên hợp quốc đánh giá, xếp hạng.
Phát triển xã hội số cũng đạt được một số kết quả tích cực. Trong lĩnh vực y tế, chúng ta đã đưa vào sử dụng Nền tảng tư vấn khám, chữa bệnh từ xa (Telehealth) kết nối các bệnh viện tuyến trung ương tới 100% số bệnh viện tuyến huyện. Việc này góp phần tiết kiệm chi phí, giảm tỷ lệ chuyển tuyến từ đó giảm tải cho hệ thống y tế tuyến trung ương. Ngành giáo dục trong những năm qua cũng đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học...
- Đại dịch Covid-19 tác động như thế nào đối với quá trình chuyển đổi số ở Việt Nam?
- Không khó để nhận ra thói quen mua sắm trực tuyến đã dần trở nên phổ biến. Học sinh, sinh viên dần hình thành thói quen học tập thông qua các nền tảng dạy, học trực tuyến. Nhiều sự kiện, hội nghị, hội thảo trong và ngoài nước diễn ra theo hình thức trực tuyến, xóa nhòa khoảng cách địa lý. Thông qua các hoạt động trực tuyến đó, rất nhiều thói quen sử dụng công nghệ đã được hình thành. Việc sử dụng công nghệ giúp giao tiếp không tiếp xúc đã trở nên bắt buộc. Đơn cử như việc sử dụng điện thoại di động quét mã QR vào/ra địa điểm công cộng đã trở nên thông dụng và phổ biến với người dân. Nếu trong trạng thái bình thường các quốc gia sẽ phải mất hàng năm để đưa quét mã QR trở thành phương thức thanh toán số quen thuộc với người dân.
- Bên cạnh đó, trong việc triển khai ứng dụng công nghệ số ở nước ta hiện nay đang tồn tại những bất cập gì?
- Tồn tại, bất cập lớn nhất trong ứng dụng công nghệ số chính là thay đổi nhận thức và thói quen. Đây chính là trở lực lớn nhất để đưa công nghệ vào cuộc sống, trở thành bình thường và phát huy hiệu quả thật sự.
Vấn đề nhân lực công nghệ chất lượng cao cũng là rào cản chủ yếu khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong chuyển đổi số. Dịch Covid-19 đã giúp các doanh nghiệp Việt nhận thấy, muốn tồn tại và phát triển cần phải nhanh chóng chuyển đổi số. Dù nhân lực hoạt động trong ngành thông tin và truyền thông tại Việt Nam đã đạt mốc một triệu người, nhưng các doanh nghiệp vẫn đang thiếu hụt nhân lực công nghệ chất lượng cao.
- Bộ Thông tin và Truyền thông đặt ra mục tiêu và giải pháp như thế nào để thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghệ số - nhân tố cốt lõi để có thể triển khai thành công chiến lược chuyển đổi số ở Việt Nam?
- Theo Chỉ thị số 01/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 14/1/2020 về thúc đẩy phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam, đến năm 2030, Việt Nam cần ít nhất 100.000 doanh nghiệp công nghệ số để phát triển kinh tế số, xây dựng đô thị thông minh, chính quyền điện tử, ứng dụng thành tựu công nghệ số rộng khắp trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội và thực hiện chuyển đổi số quốc gia. Bộ Thông tin và Truyền thông đặt mục tiêu đến năm 2025 sẽ đạt 100.000 doanh nghiệp công nghệ số và khởi xướng, phát động chương trình Make in Vietnam, xem đó là điểm tựa để phát triển lực lượng doanh nghiệp số. Theo đó, từ năm 2020 - 2025, mỗi năm sẽ có thêm khoảng 6.000 doanh nghiệp số mới.
Trọng tâm của Chiến lược Phát triển doanh nghiệp công nghệ số là tinh thần Make in Vietnam, là chuyển đổi Việt Nam thành quốc gia số, là giải các bài toán Việt Nam bằng công nghệ, là phát triển các nền tảng chuyển đổi số, là làm chủ công nghệ qua việc đẩy mạnh ứng dụng và từ cái nôi thị trường trong nước sẽ đi ra toàn cầu.
Những kết quả đạt được trong thời gian qua đã khẳng định Việt Nam có thể áp dụng mạnh mẽ kỹ thuật số vào trong nền kinh tế và hoàn toàn có khả năng phát triển mạnh kinh tế số, xã hội số trong thời gian tới đây. Tuy nhiên, để đến được cái đích là xây dựng nền kinh tế số và xã hội số thì vẫn còn một chặng đường rất dài với nhiều vấn đề đặt ra.
Chuyển đổi số là sự thay đổi từ môi trường truyền thống sang môi trường số. Sự thay đổi đó phụ thuộc vào việc có dám hay không dám chấp nhận cái mới; vì vậy, yếu tố quan trọng nhất chính là nhận thức.
- Xin trân trọng cảm ơn Thứ trưởng!
TRẦN TRUNG HIẾU (thực hiện)