Thừa phiếu, thiếu người mua
Ngày 3/12/2025, phiên đấu giá đơn vị phát thải của New Zealand kết thúc với kết quả không mấy bất ngờ. Không có bất kỳ hồ sơ đặt mua nào xuất hiện. Truyền thông nước này ghi nhận đây là lần thứ hai xảy ra tình trạng cả bốn phiên đấu giá trong năm đều thất bại.
Trước đây, thị trường ETS ở quốc gia này không phải lúc nào cũng hiu quạnh như vậy. Năm 2024, phiên đấu giá tháng 3 bán được gần ba triệu “phiếu” trong tổng số 3,5 triệu đơn vị chào bán. Đến phiên cuối năm, sàn bán được hơn bốn triệu đơn vị ở mức 64 NZD/đơn vị. Xen giữa những điểm sáng đó, hai phiên đấu giá giữa năm cũng từng rơi vào tình trạng “trắng” bên mua.
Số liệu cập nhật của Bộ Môi trường New Zealand tính đến 4/1/2026 cho thấy: Mức giá cho mỗi đơn vị phát thải ở thị trường thứ cấp đạt 40,14 NZD, thấp hơn nhiều so với giá sàn là 67,48 NZD. Chênh lệch về giá là nguyên nhân dẫn đến sự thờ ơ của các doanh nghiệp nước này.
Thực tế, mức giá thị trường cho thấy vấn đề đáng lo hơn. Người tham gia không tin rằng đơn vị phát thải sẽ khan hiếm trong tương lai gần. Do đó, tất cả mất đi cảm giác rằng mình cần phải khẩn trương trong những quyết định đầu tư vì môi trường.
Ở góc nhìn chính sách, đây là tín hiệu báo động. Chính phủ New Zealand đưa đơn vị phát thải ra thị trường theo kế hoạch thông qua đấu giá và phân bổ, từ đó gây áp lực giảm phát thải. Khi đấu giá liên tiếp không có người mua, thị trường khó tạo ra tín hiệu đủ mạnh để buộc doanh nghiệp thay đổi hành vi.
Hệ quả của tích lũy tín chỉ quốc tế giá rẻ
Nguyên nhân khiến thị trường mua bán hạn ngạch phát thải của New Zealand xảy ra tình trạng trên đến từ giai đoạn dài tích lũy khiến số lượng lớn đơn vị phát thải nằm yên trong “tay” các bên tham gia, thay vì lưu chuyển tạo áp lực giảm phát thải.
Trong giai đoạn 2013-2015, nước này cho phép doanh nghiệp dùng tín chỉ quốc tế theo cơ chế Kyoto để hoàn thành nghĩa vụ. Khi tín chỉ quốc tế rơi xuống mức giá thấp, doanh nghiệp tại đây ngay lập tức mua tín chỉ giá rẻ để nộp và số đơn vị phát thải trong nước được giữ lại làm “của để dành”. Tính đến tháng 7/2015, các doanh nghiệp New Zealand tích trữ khoảng 140 triệu đơn vị trong “ngân hàng”, gần gấp bốn lần số lượng đơn vị thực nộp trong năm 2014.
Ở đây, cơ chế cho phép các doanh nghiệp để dành đơn vị phát thải qua các năm bỗng chốc lộ ra mặt trái. Về lý thuyết, chính sách này giúp doanh nghiệp tối ưu chi phí theo thời gian, đồng thời tạo ra tính linh hoạt cho thị trường. Nhưng khi thị trường quốc tế rơi vào giai đoạn giá rẻ kỷ lục, những doanh nghiệp có thừa khả năng tạo ra kho lưu trữ riêng.
Ngoài phần đơn vị phát thải được Chính phủ New Zealand đưa ra qua đấu giá và phân bổ, hệ thống còn có lượng đơn vị phát sinh từ hoạt động hấp thụ khí nhà kính, chủ yếu từ hoạt động lâm nghiệp. Chu kỳ sản xuất rừng không ngừng làm dày thêm nguồn cung, trong khi các giới hạn cung mà Chính phủ điều chỉnh thường chỉ tập trung vào sàn đấu giá, mức phân bổ hay một số
“van an toàn”.
Tính đến giữa năm 2023, các doanh nghiệp tham gia thị trường ETS ở New Zealand nắm giữ khoảng 160 triệu đơn vị. Ước tính, phần dư thừa nằm trong khoảng 33-66 triệu đơn vị, vượt quá nhu cầu phù hợp với mục tiêu khí hậu tại đây.
“Việc dư thừa nguồn cung các đơn vị phát thải do các bên tham gia nắm giữ đã góp phần làm giảm giá carbon. Điều này dẫn đến việc các cuộc đấu giá gần đây không thành công, đồng thời tiềm ẩn rủi ro đối với việc đạt được các mục tiêu về khí hậu và ngân sách phát thải của chúng ta”, Bộ trưởng Biến đổi Khí hậu New Zealand Simon Watts phát biểu.
Đây cũng là lý do khiến Chính phủ New Zealand tuyên bố giảm mạnh lượng đơn vị Nhà nước dự định đưa ra giai đoạn 2025-2029 từ 45 triệu xuống 21 triệu. Dẫu vậy, mức giá tại các sàn ở đây, giá dự trữ để kiềm chế chi phí và khối lượng dự trữ hiện tại vẫn được giữ nguyên trong thời gian tới.
Bài học cho Việt Nam
Câu chuyện đấu giá hạn ngạch phát thải của New Zealand mang đến nhiều gợi mở cho thị trường sơ khai như Việt Nam.
Trong giai đoạn thí điểm, chúng ta sẽ có hạn ngạch phát thải do Nhà nước phân bổ và tín chỉ carbon dùng để bù trừ. Đáng chú ý, phần lớn hạn ngạch sẽ được cấp miễn phí để doanh nghiệp làm quen cơ chế. Việt Nam cũng cho phép doanh nghiệp bù trừ tối đa 30% nghĩa vụ bằng tín chỉ carbon từ các dự án phát thải thấp trong nước hoặc quốc tế. Dẫu vậy, Nhà nước vẫn nên tính toán và phát phiếu theo lộ trình, để khiến thị trường tin rằng số lượng rồi sẽ khan hiếm hơn theo thời gian.
Thị trường carbon sống bằng đo lường dựa trên dữ liệu. Với Việt Nam, chúng ta không chỉ hướng tới quá trình mở thị trường carbon sao cho kịp tiến độ, mà phải giữ cho hạn ngạch phát thải và tín chỉ bù trừ vận hành đúng giá trị cũng như thỏa mãn mục tiêu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường ■
Báo cáo phân tích kỹ thuật của Ban Thư ký Công ước khung của Liên hợp quốc từng lưu ý, Việt Nam có những hạng mục thiếu dữ liệu hoạt động, phải tính toán theo cách bù đắp. Đồng thời, báo cáo khuyến nghị cân nhắc dùng thêm nguồn dữ liệu quốc tế để khỏa lấp khoảng trống.