Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Quốc phòng:

Từ đối đầu sang bắt tay làm bạn để cùng hợp tác phát triển

Nhân kỷ niệm 20 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hoa Kỳ (12-7-1995 - 12-7-2015), phóng viên Báo Nhân Dân hằng tháng đã có cuộc trao đổi với Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh (ảnh trên), Ủy viên T.Ư Đảng, Thứ trưởng Quốc phòng về ý nghĩa của sự kiện này, cũng như những bước phát triển mạnh mẽ trong quan hệ song phương kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc nội dung cuộc trò chuyện.

Từ đối đầu sang bắt tay làm bạn để cùng hợp tác phát triển

Việt Nam và Hoa Kỳ đang có những hoạt động kỷ niệm 20 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao. Mối quan hệ nhiều mặt giữa hai nước đã và đang phát triển hết sức tốt đẹp, nhất là sau khi xác lập Quan hệ đối tác toàn diện năm 2013... Xin Thượng tướng cho biết một số thành tựu và kết quả hợp tác nổi bật mà hai nước đạt được nói chung và trong lĩnh vực hợp tác quốc phòng nói riêng?

Tôi nghĩ rằng Quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ xác lập năm 2013 là kết quả của một chuỗi cố gắng phấn đấu của cả hai bên từ năm 1995, khi hai nước bắt đầu bình thường hóa quan hệ... Đầu tiên là xây dựng lòng tin. Thứ hai là bình đẳng, tôn trọng độc lập tự chủ, chủ quyền lãnh thổ, tôn trọng chế độ chính trị và lợi ích của nhau. Bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau là xu thế chung của thế giới. Trên cơ sở nhận thức ấy, Việt Nam và Hoa Kỳ đã có những phát triển vượt bậc về hợp tác kinh tế, khoa học - kỹ thuật và giáo dục. Không một quốc gia nào mong muốn phát triển mà lại không hợp tác với Hoa Kỳ. Một điểm nữa là quan điểm an ninh của nước ta và Hoa Kỳ. Quan điểm này giữa hai nước hoàn toàn khác biệt trong suốt thời chiến, tuy nhiên với sự vận động chung của thế giới sau này, giữa ta và bạn dần dần xuất hiện nhiều nét tương đồng. Thí dụ quan điểm về hòa bình, ổn định, bình đẳng, có thể can dự nhưng phải dựa trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế. Điều này không phải thiện chí của bất kỳ nước nào, của Việt Nam hay Hoa Kỳ, mà vì lợi ích chung của tất cả quốc gia trên thế giới. Hoa Kỳ muốn có lợi thế ở châu Á - Thái Bình Dương, Hoa Kỳ phải đáp ứng những yêu cầu đó. Bên cạnh đó, quan hệ quốc phòng là lĩnh vực cuối cùng được đưa ra khi hai quốc gia thiết lập bình thường hóa quan hệ, vì tính chất vô cùng nhạy cảm và bởi đặc trưng của vấn đề này là lòng tin. Khi chưa có quan hệ quốc phòng thì khó để nói hai nước tin tưởng lẫn nhau. Còn khi đã thiết lập mối quan hệ kiểu này, thì mức độ, lĩnh vực, phạm vi hợp tác như thế nào là điều cần phải cân nhắc. Việt Nam và Hoa Kỳ đã thiết lập quan hệ quốc phòng khoảng sau những năm 2000... Chúng ta mở quan hệ với Hoa Kỳ một cách độc lập, tự tin, thận trọng nhưng cũng rất chủ động. Quan hệ ấy đã góp phần đem lại lòng tin giữa hai quốc gia, trong đó hai bên thống nhất không sử dụng sức mạnh quân sự để đối phó nhau.

Hải quân Mỹ giao lưu với Hải quân QĐND Việt Nam tại Đà Nẵng. Ảnh: Internet

Bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau là xu thế chung của thế giới. Trên cơ sở nhận thức ấy, Việt Nam và Hoa Kỳ đã có những phát triển vượt bậc về hợp tác kinh tế, khoa học - kỹ thuật và giáo dục.

Thượng tướng có thể nói rõ hơn về sự chủ động trong hợp tác của hai nước?

Đó là động lực muốn hợp tác với nhau, và cơ sở của động lực này chính là lợi ích của mỗi nước. Đây là vấn đề phải xuất phát từ hai phía nếu đôi bên muốn thật sự bắt tay hợp tác. Đạt được điều này, chúng ta lại cần có lòng tin. Chúng ta cần phân biệt giữa lòng tin tuyệt đối và lòng tin thực tế. Theo lẽ thường, con người tin nhau bằng tình cảm, bằng đạo lý nhưng chỉ từng đấy thôi thì chưa đủ, không thể bền vững. Mà đôi bên phải vừa dựa trên tình cảm, vừa dựa trên lợi ích, đấy mới là lòng tin bền vững. Điều này phải được bồi đắp qua thời gian bằng những việc làm cụ thể. Lợi ích càng nhiều thì lòng tin mới càng lớn được.

Vậy theo ông, vai trò của luật pháp trong vấn đề này như thế nào?

Luật pháp là khuôn khổ chung của thế giới, nêu ra những nguyên tắc cho quan hệ giữa các quốc gia. Điều kiện tiên quyết để xây dựng lòng tin quốc tế là mỗi nước đều phải tôn trọng và tuân thủ đầy đủ luật pháp quốc tế. Do đó, tại Hội nghị Shangri-La năm 2013, Thủ tướng nước ta đã đưa trước quốc tế một khái niệm mới, đó là “Lòng tin chiến lược”. Đây là khái niệm áp dụng cho các nước có lợi ích liên quan nhau, cùng tuân thủ luật chơi chung của thế giới. Tôi cho rằng, đây sẽ là khái niệm mang tính chất lâu dài, được các quốc gia khác nhận thức và theo đuổi.

Với những thành tựu mà chúng ta đã xây dựng được trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, xin Thượng tướng đánh giá về tiềm năng phát triển của mối quan hệ này?

Năm 2011 chúng ta đã ký với Hoa Kỳ Bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng, bao gồm năm lĩnh vực hợp tác mà hai bên nhất trí xúc tiến thực hiện trong thời gian tới: Thứ nhất là trao đổi các đoàn cấp cao giữa hai bên nhằm trao đổi thông tin, quan điểm, đường lối, chủ trương qua đó tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Thứ hai là hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh như chất độc da cam/dioxin, bom mìn còn sót lại, tìm kiếm hài cốt quân nhân Mỹ trong chiến tranh Việt Nam (MIA) hay sự giúp đỡ tìm kiếm liệt sĩ Việt Nam hy sinh trong chiến tranh từ phía Mỹ. Thứ ba là hợp tác gìn giữ hòa bình quốc tế.

Thời gian gần đây, Việt Nam rất tích cực tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình quốc tế và sự đóng góp được LHQ đánh giá rất cao. Thứ tư là hợp tác về tìm kiếm cứu nạn và các hoạt động mang tính chất nhân đạo như quân y, v.v. Và thứ năm rất quan trọng là hợp tác về an ninh biển.

Như Thượng tướng vừa nói, tình hình an ninh biển hiện nay nhận được sự quan tâm lớn của cộng đồng quốc tế, nhất là Việt Nam lại nằm trong vùng rốn quan tâm của thế giới. Vậy hợp tác quốc phòng giữa hai nước có chú trọng hơn vào an ninh biển không?

Phải khẳng định, Việt Nam thiết lập hợp tác an ninh biển với nhiều nước chứ không riêng Hoa Kỳ. Bởi chúng ta có đường bờ biển dài gần 3.300 km, liên quan nhiều nước trong khu vực châu Á, nên tôi cho rằng quan hệ quốc phòng về biển giữa Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ không có gì đặc biệt hơn các lĩnh vực khác. Điều này theo tôi là tất yếu, giữa một nước có nhu cầu hợp tác về an ninh biển với các nước khác, các nước khác đồng thời có lợi ích, trách nhiệm và có quyền hoạt động ở khu vực biển. Đấy là hợp tác cùng có lợi. Hoa Kỳ là một nước lớn, một nước có hoạt động hải quân hàng đầu thế giới. Việt Nam cần lựa chọn những nội dung, lĩnh vực hợp tác an ninh biển với Hoa Kỳ mà có thể bảo đảm vững chắc cho mối quan hệ hợp tác an ninh tốt đẹp đó, không gây lo ngại cho các quốc gia có liên quan biển ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Biển Đông nói riêng. Thí dụ, chúng ta không diễn tập về tác chiến trên biển với Hoa Kỳ, mà chỉ hợp tác nâng cao năng lực bảo vệ việc thực thi pháp luật trên biển, tăng cường các hoạt động tìm kiếm cứu nạn trên biển hay đối phó biến đổi khí hậu.

Chuyến thăm Việt Nam của tướng Martin Dempsey (2014) đánh dấu một bước quan trọng trong quan hệ quân sự Việt Nam - Hoa Kỳ. Ảnh: AP

Tăng sức mạnh trong dân, ổn định chính trị - xã hội là điều cốt lõi, chứ không phải chăm chăm đi mua vũ khí, xe tăng, tàu ngầm.

Thời gian qua đã có những cuộc trao đổi cấp cao giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Trung Quốc. Phản ứng của phía Trung Quốc như thế nào trước những bước phát triển của quan hệ hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ?

Trong các cuộc trao đổi giữa Việt Nam và Trung Quốc về mối quan hệ quốc phòng, chúng tôi luôn luôn đặt vấn đề là chúng tôi sẽ không bao giờ đem câu chuyện về các mối quan hệ quốc phòng của nước này để đi nói với nước khác. Tuy nhiên, khi đề cập vai trò của Hoa Kỳ ở khu vực và quan hệ với Việt Nam, tôi chưa lần nào thấy Trung Quốc tỏ ra quan ngại về mối quan hệ này cả, thậm chí họ còn nói rằng họ ủng hộ Việt Nam thắt chặt quan hệ quốc phòng với Mỹ như chúng ta đang làm, vì lợi ích hai bên, dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, không nhằm vào bất kỳ quốc gia nào và không gây bất ổn đối với hòa bình, an ninh ở khu vực. Bởi chúng ta rất minh bạch trong quốc phòng, không giấu diếm nên không quốc gia nào có thể nói rằng Việt Nam thân thiết với nước này, bắt tay với nước kia để gây quan ngại cho tình hình khu vực. Với Trung Quốc cũng như vậy. Nếu phía Trung Quốc có hỏi, Việt Nam nghĩ thế nào về mối quan hệ quốc phòng giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, chúng tôi rất vui vẻ đáp lại rằng: Việt Nam ủng hộ và mong muốn mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước bạn, miễn là mối quan hệ đó phải bảo đảm mang lại lợi ích cho hai bên, không gây phương hại cho bất kỳ quốc gia nào, không làm hỏng môi trường hòa bình, ổn định của khu vực.

Phía Trung Quốc có tỏ ra minh bạch trong quan hệ quốc phòng của mình không, thưa Thượng tướng?

Tôi không thể nói rằng Trung Quốc có minh bạch hay không, vì tôi không có căn cứ, bằng chứng, dữ liệu cụ thể để nói về vấn đề quan trọng như thế. Nhưng tôi có thể nói rằng, tôi thật sự quan ngại trước những biểu hiện, hành vi ứng xử đi ngược lại luật pháp quốc tế. Tôi còn đặc biệt quan ngại về việc nói nhưng không làm hoặc nói một đằng, làm một nẻo. Là một người quan sát, tôi được biết, khái niệm “Lòng tin chiến lược” mà Việt Nam đã và đang xây dựng được cộng đồng quốc tế ủng hộ mạnh mẽ.

Vậy quan điểm này áp dụng trong ASEAN như thế nào? Liệu đã đạt được ở mức mà chúng ta mong đợi hay chưa, thưa Thượng tướng?

Trước hết phải khẳng định rằng, việc đạt được lòng tin giữa các quốc gia là xu thế chung của thế giới, trong đó có khối ASEAN và Việt Nam trong bối cảnh chúng ta chuẩn bị thành lập Cộng đồng ASEAN vào cuối năm nay. Thủ tướng nước ta đã dẫn dắt khái niệm “lòng tin quốc gia” trở thành khái niệm cụ thể hơn là “lòng tin chiến lược”. Nội hàm của lòng tin chiến lược chính là chân thành và thực chất. Đây là điều tôi dám chắc không nước nào có thể phản đối hay nói ngược lại được. Tuy nhiên, vì chịu tác động từ nhiều phía, nhất là từ các nước lớn, thì mỗi nước đều phải tính toán lợi ích của mình, trong đó có những lợi ích cơ bản, lâu dài và có cả lợi ích trước mắt, nhất thời. Đó là điều hoàn toàn thông cảm được, nhưng liệu cái lợi ích đó có giúp gì cho sự phát triển của quốc gia đó hay không, hay lại trở thành lợi bất cập hại.

Việt Nam luôn là một quốc gia chủ động đưa ra những sáng kiến đóng góp vào lòng tin chiến lược, cho sự bền vững của cộng đồng. Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã đưa ra sáng kiến rất thiện chí, là không nổ súng trước trên Biển Đông; hay xây dựng và thực hiện Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC), v.v. Phải khẳng định rằng tiếng nói của chúng ta luôn tuân thủ luật pháp quốc tế, nằm trong luật chơi chung của thế giới.

Gần đây, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long rất quan tâm đến vấn đề Biển Đông và mong muốn các quốc gia trong khối ASEAN cùng nhau xây dựng lòng tin, sẵn sàng đối phó các nguy cơ bất ổn. Xin Thượng tướng cho biết phản ứng của Trung Quốc trước sự tập hợp công khai và ngày càng mạnh mẽ này của ASEAN? Thượng tướng có bình luận gì?

Không chỉ có Thủ tướng Lý Hiển Long mà nguyên thủ nhiều nước, thậm chí các tổ chức quốc tế ở xa gần đều lên tiếng, bày tỏ quan tâm trước vấn đề này. Nó thể hiện rằng đây là vấn đề của quốc tế, liên quan luật pháp quốc tế, chứ không chỉ còn là câu chuyện tranh giành nhau vài bãi đá. Nó còn liên quan cả vấn đề hàng hải và hàng không trên vùng Biển Đông trong tương lai. Việc Trung Quốc có nói gì thì tôi không bình luận, nhưng tôi nghĩ phía họ chắc chắn sẽ có hai khuynh hướng. Thứ nhất, là cứ làm bừa. Thứ hai, là nếu tiếp tục cách hành xử như vậy, liệu Trung Quốc còn là một quốc gia tin cậy cho cộng đồng quốc tế không. Nếu họ có động thái hăm dọa ta thì cũng chẳng làm được gì. Việt Nam từ xưa đến nay bị hăm dọa nhiều lắm, vấn đề là chúng ta phản ứng thế nào trước hành vi đó. Việt Nam luôn bình tĩnh điều hòa, thận trọng xử lý các mối quan hệ chung quanh, bởi thế mà Đảng và Nhà nước mới có câu “Chăm lo cho quốc phòng”. Tức là tăng sức mạnh trong dân, ổn định chính trị - xã hội là điều cốt lõi, chứ không phải chăm chăm đi mua vũ khí, xe tăng, tàu ngầm. Mỗi một người dân Việt Nam phải tự nhận thức rõ vai trò của mình khi đất nước gặp nguy, đồng thời phải xây dựng nền tảng kinh tế, văn hóa, xã hội cùng với quốc phòng. Bên cạnh đó, chúng ta còn phải chú trọng củng cố sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong thời chiến và cả trong thời bình, đây là một yếu tố quan trọng trong mặt trận quốc phòng toàn dân. Cuối cùng là xây dựng quân đội mạnh, tinh gọn nhưng từng bước tiến lên hiện đại, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc trong mọi điều kiện.

Xin trân trọng cảm ơn Thứ trưởng!