Người đàn ông ngồi bó gối trên chiếc giường xộc xệch, cặp mắt mờ tối u ám thi thoảng ánh lên những tia sáng. Rời khỏi chiếc giường lẹp kẹp đôi dép người đàn ông mấp máy: "Tìm được cơ à. Sao bảo là đi công tác". "Đã phân rồi nhưng hoãn, sếp sợ không ra kịp Tết. Cái bàn tay của anh thế nào rồi. ‡n chứ". Khuôn mặt khắc khổ của người đàn ông chợt co rúm lại. Anh đưa bàn tay trái ra, bàn tay còn có hai ngón xương xẩu chìa về phía tôi, tôi nhìn vào bàn tay chợt nhói lên một cái gì mơ hồ, xa vắng và chua xót. Tôi hậm hực: "Bọn chó đểu, để em cho nó một trận". Anh ấn tôi ngồi xuống bộ bàn ghế mốc thếch và rệu rã thở dài bảo: "Tết nhất đến nơi chú gây ra đấy rồi lại khổ. Cũng là cái vận cái hạn của anh".
Ngoài trời ảm đạm đến thê lương. Căn nhà nhỏ như căn hầm và chừng như tai họa có thể đáp xuống nó bất cứ lúc nào. Người đàn ông lặng lẽ pha trà, những ngón tay xương xẩu gắp gắp cọng trà rối như cứa vào tôi. Tôi hỏi thoang thoảng trong tiếng thở dài: "Chị đi chợ hả anh".
"Ừ, mua sắm ít đồ cúng. Người dương gian không có ăn cứ sắm sanh đồ cung tiến người âm phủ. Bảo nhiều vẫn thế. Có khi lo cho thằng cu". Thằng cu! Trong tôi rạng lên một niềm vui.
"Nó đâu anh? Tết nhất sao nó không ở nhà. Cái thằng. Anh gọi nó ra đây đi. Chắc là cao lớn lắm". Người đàn ông chìm ngẫng đi, đôi vai so lại. Da mặt chuyển dần sang mầu tái xám, rồi sù sụ ho. Hớp một hớp nước tôi rót đưa anh, giọng anh từ lơ lắc thoảng về: "Nó bỏ anh đi đã mấy năm rồi chú". Sao anh? Tôi giật mình. Nó bỏ đi đâu? Hay là ai dụ dỗ mồi chài nó. Sao nhiều tai họa ập xuống gia đình này vẫn còn chưa đủ khổ hay sao hả ông trời. Thằng nhỏ tôi ẵm nó thời hai, ba tuổi nó vẫn ngoan mà, nó ngoan lắm. Đã bao giờ nó chê bố mẹ đâu. Con không chê bố mẹ khó, chó không chê chủ nghèo. Hay là có uẩn khúc gì mà anh không tiện nói.
Chị đi chợ về, vẫn hom hem, xiêu vẹo như xưa. Chị nhìn tôi móm mém nở nụ cười thân thiện và bỡ ngỡ. Tôi đứng lên chào chị. Chị nói câu gì đó tôi nghe không rõ. Chị đi men men xuống bếp lạch xạch múc nước giội lòa xòa.
Người đàn ông bảo: "Chị bảo chú ở đây ăn cơm. Rồng ăn cơm tôm xem sao. Chú năm nay ở quê ăn Tết với anh chị".
Ba chúng tôi ngồi ăn uống ngay trên giường.
Khuôn mặt người đàn ông có chút men dãn ra dễ nhìn hơn và bớt già hơn. Tôi và anh đốt gần hết hai bao thuốc lá khói mù mịt làm người đàn bà thỉnh thoảng phải ngồi nhích ra phía cửa. Có lúc đến mười lăm phút không ai nói với ai một câu nào. Rồi lại nói mấy câu tủi hờn, cảm ơn hoặc trách móc. Bây giờ tôi mới có dịp quan sát chị. Chị đã già lắm, teo tóp và kiệt khô từ ánh mắt, nụ cười. Có lúc chị tựa vào vai anh. Hai người gầy guộc tựa vào nhau trong màn khói của tôi và anh nhả ra đều đặn mơ hồ và nghiêng đổ.
"Chị một dạo đi làm công nhân. Rồi lại về...", giọng anh chìm chìm. Chị nhìn anh như người mắc lỗi. Thì thế, dạo mấy liên doanh may mặc về tuyển người. Phải chạy chọt mấy triệu mới được đi làm. Làm công nhân liên doanh, cái việc bình thường ấy sao mà cao sang vời vợi với chị. Thì người đàn ông bảo: "Em cứ đi. Mấy triệu anh chạy được. Đi cho bằng chị bằng em.
Đã khổ già nửa cuộc đời còn gì". Mơ ước ấy đến cũng nhanh và lạ lùng thế nào. Chị chăm chỉ, lam làm hợp với việc vá may, thêu thùa quá đi chứ. Rồi rưng rưng tháng lương đầu tiên anh chị dành dụm cho con đi chợ thị trấn. Dạo ấy thằng bé còn đi học, nó chưa bỏ đi như bây giờ. Có khi nó bỏ đi cũng từ việc đi làm công nhân của chị.
Người đàn bà thừ thẫn khi nhắc đến con.
Ngoài trời đã tối sẫm. Mưa vẫn rơi lạch xạch dồn ứ tâm tư xuống khoảng sân tối trũng lũ chuột cống khịp khịp ăn đêm một sức nặng bí ẩn, truyền kiếp. Ngồi trước tôi là người đàn ông và người đàn bà tôi quen biết đã hai mươi năm mà sao xa lạ. Tôi lạc khỏi họ bởi những gì nhung nhúc, tấp tới và hãnh tiến ở đời. Họ chìm đi, khuất lấp đến kiên cường từ hữu lý và vô lý, từ đúng và sai chẳng biết đang diễn ra. Diễn bình thản ra chắc chắn và tù túng như hầm mộ...
Bây giờ thì ba người cùng im lặng, đeo đuổi những nghĩ suy của riêng mình. Cha và con. Vợ và chồng. Người dưng nước lã xoay cuồng, xoáy lốc. Tôi bỗng nhìn thấy anh những buổi lầm lì bên chai rượu vô hồn nhìn mãi đâu đâu một thứ mây xám xịt ở trên đầu. Dạo anh nằng nặc đòi chuyển nhà, chị bảo: "Mồ mả gia tiên còn ở đây, chuyển đi đâu hở anh?". Người đàn ông im lặng nhìn trời. Một hôm người đàn ông bảo: "Có khi phải xây nhà". Chị băn khoăn nhìn chồng mộng mị. \ căn nhà đã sụp xuống đến nơi thì phải xây lên chứ. Chị hồ hởi: "Xây nhà hả anh.
Cứ xây như cũ là được anh ạ. Cốt là có cái nhà chắc chắn cho con nó học, nhỏ bé ẩm thấp mẹ con em chịu được" làm anh quăng quắc, rồi anh thẫn thượt thở dài: "Lấy đâu ra tiền, làm ăn càng ngày càng khó".
Đứa con bỏ đi. Nó đi cũng lạ lùng, im lặng như tính khí của anh. Một hôm nó bảo: "Bố mẹ cho con đi vào trong kia. Người ta bảo làm ăn dễ lắm". Chị nhìn anh. Anh nhìn chị im lặng.
Biết trả lời nó như thế nào. Can ngăn nó ư. Để làm gì mới được kia chứ. Anh nhìn chàng thanh niên con mình chua xót từ gan ruột. Thế đấy.
Đời anh đừng có vít đời nó xuống, giam hãm đời nó ở đây làm gì. Chị thì khóc. Chị vừa khóc vừa đến níu lấy người con van vỉ: "Con đừng đi. Bên ngoài cũng khó sống lắm". Thằng con dứt khoát: "Con đã hẹn với người ta rồi, chỉ mấy năm con đón bố mẹ. Mẹ đừng cản con". Người đàn ông vô hồn nhìn ra phía ngoài. Nơi ấy đứa con sẽ bước vào, sẽ lăn lóc cúi mặt ở trong ấy.
Cũng có khi nó ngẩng mặt lên. Nó đi có khi lại tốt cho nó, cho anh chị. Ràng buộc nhau mãi mà làm gì. Ai rồi chả suy nghĩ như vậy.
Đêm xuống sâu hơn. Căn nhà càng u uất nhỏ nhoi trước bao xập xình bát nháo xanh đỏ những tòa gác ba bốn tầng. Tiếng chuột chạy lõm bõm, lạch xạch ngoài sân. Sân sâu hun hút như lòng giếng nhấp nhóa nước cống rãnh phun từ dưới lên, nước róc từ đâu đó xuống. Tôi ngồi bất động. Một cái gì phi lý tiếp tục nhoi nhói.
Bỗng tiếng người lạnh lẽo xa vắng và u uất trỗi lên, trỗi lên một dòng nước đổ ải, rồi như luồng điện chạy vào huyết quản, tim óc não bộ những lời nguyền oan khuất vang lên đòi trả nợ...
...Nào tôi có tội tình gì? Tiếng người nọ vang lên gằn hắt. Ngày chiến tranh biên giới Tây Nam người đàn ông phần đầu câu chuyện khi ấy còn tuổi thanh thiếu niên ra đi trong mưu mô của người cha dượng đang tập tọng quát tháo nịnh hót chốn công quyền. Chàng thanh niên run rẩy bầm giập của tráo trở, lật lường, đạn bom, và đói khát. Cha dượng găm gắm nhìn cậu thanh niên từ chân lên bằng cặp mắt con sói già lão luyện: "Con cứ đi, có chiến công về mới ngoi lên được, dượng thương lắm nhưng còn mẹ mày, còn các em. Mai kia, ở nơi đó ra, dễ cả cho con, cả cho dượng". Thỏ con giương đôi mắt chấp chới, hoang mang. Phía bên kia tiếng thở dài đàn bà. Phía ngoài kia tiếng chí chóe của mấy đứa con dượng. Và xa lắc, xa lắc hay gần gụi bao nhiêu hơi thở của dòng sông, của bãi bồi, mố cầu đổ, vạt mạ non nhấp nhánh, xon xót tròng mắt. Ghìm cục nước chậm choại nơi cổ họng, đôi mắt thỏ hằn lên, đối kháng, hất hỏng: "Mặc tôi. Việc ai, nấy chịu" rồi vùng vằng, rồi thẳng cánh nhoài người vớ cái áo bước bất cần ra đầu ngõ, nơi tiếng chó đang vẳng lên, nơi bóng giời đang sập xuống như giăng bẫy. Tiếng thở dài nấc lên đâu đó, dài đến tận bây giờ.
Mấy năm ở chiến trường người lính bạn vùng sông gần như câm lặng. Chôn những người chết, mơ hồ dõi theo đám mây xa xám bay vơ vẩn, vô định mấy hướng trời chờ một đột biến, một khởi khúc xảy ra hoặc kết thúc. Mà tất cả lại mơ hồ lành lặn, lành lặn đến quỷ quái.
Rồi kết thúc. Khi mọi thứ tưởng cứ lều bều, vô định và chờ đến đột biến lại kết thúc một cách lạ lùng. Những người lính còn lại bỗng được rút đi, được trả lại làng quê nơi họ ra đi một cách bình thường, thậm chí lễ nghĩa trong cái đói và cái mâu thuẫn, sự xộc xệch của cơ chế, của bộ phận nào đó mà ai đó ngại nói.
Anh lính bạn trở về làng. Không. Bây giờ phải nói là người đàn ông mới đúng. Ra dáng lắm, lầm lì, hơi dị biệt nhưng bình thường dưới cái nhìn của những người tốt bụng. Anh lính bạn đến công đường trình giấy tờ, quyết định theo thủ tục. Mấy cô gái đang làm cỏ, nhổ mạ ven đồng trêu chọc anh. Họ chỉ trỏ cười ré lên với nhau. Mấy chú trâu mang ách bừa không hiểu gì, đôi tai lúc lắc. Một đàn cò bảy tám con thong thả rỉa lông phía cuối cánh đồng đầy rơm rạ thối.
Những người nơi công đường khi ấy đều dưới quyền dượng người trở về. Họ cũng xao xác và leo lét. Anh đang trình bày và chuẩn bị rút khỏi đó thì một chiếc xe ô-tô bốn chỗ xịch đến. Trên xe bước xuống một người đàn ông lùn nần nẫn đội chiếc mũ cối. Ông lất chất bước về phía căn phòng có tấm biển ghi tên vị đứng đầu. Còn chưa hiểu ông là ai thì một người vẻ sợ sệt tiến đến người lính nói đứt quãng: "Anh... anh vào chỗ kia các ông... ông gặp...". Chỗ kia? Tay nói đứt quãng chỉ vào chỗ người đàn ông đi xe bốn chỗ vừa vào.
Anh lẩm nhẩm: "Là thế nào nhỉ?".
Là thế nào nhỉ? Người đàn ông đuỗn ra nhìn những hạt mưa ngoài sân hun hút như lòng giếng.
Đã mấy mươi năm chả rõ ra chuyện gì. Cái lúc trước hai vị lãnh đạo cũng hơi băn khoăn. Không biết người ta mời vào đây để làm gì? Có chủ trương gì chăng? Anh về bãi sông đã mấy tuần không ai hỏi han. Tiếng thở dài ngày trước nấc lên đã tắt. Mộ xanh cỏ không có bia chiều trước anh ngồi mãi bên đó. Không khóc được. Biết bắt đầu khóc từ đâu. Rồi anh ra đình sống tạm, có người họ hàng xa đến dẫn về. Đói kém và nghi kỵ nên mọi nói năng càng trở nên giảm thiểu. Chỉ bọn con gái làm đồng qua lại hay chỉ trỏ, rúc rích cười.
Mặt hai người lãnh đạo khi ấy nghiêm trọng.
Dượng vắn tắt, trang nghiêm thông báo sự đứt đi của tiếng thở dài phía dưới nấm mộ xanh. Ông có vẻ ốm và thành thực vân vê đầu mẩu thuốc. Người đàn ông béo lùn khinh khỉnh nhìn lướt hai bố con, rồi dừng lại ở anh con riêng chợt hơi sững một cái, tinh ý lắm mới nhận ra cái sững người ấy. Người cha không nhận thấy chỉ thấy chợt lành lạnh nơi sống lưng. Ông lùn bảo: "Thôi để cậu này về. Rồi chúng ta sẽ sắp xếp". Giọng nói bâng quơ mà ông bố luống cuống giục: "Anh về trước đi. Để tôi bàn bạc với các anh ấy". Mấy ngày sau, tháng sau, mấy năm sau không ai nói lại gì với anh. Cho đến tận bây giờ khi anh đã trở thành người đàn ông, đã quên đi rất nhiều thứ và ngay cả đứa con cũng đã lớn, đã bỏ đi vẫn không thấy hai người kia sắp xếp bàn bạc gì.
Chúng tôi đã uống rất nhiều rượu và đốt nhiều thuốc. Người đàn bà không chịu được khói thuốc bỏ đi từ lúc nào. Hình như người đàn bà xuống bếp hâm lên món gì đó. Hay là chị đi tìm con?
Người đàn bà về ở với người đàn ông khi anh định bỏ làng. Bỏ đây rồi đi đâu chả biết nhưng định bỏ đi thật. Lúc ấy người đàn bà đến. Chị bảo: "Tôi biết anh từ dạo anh chưa đi Tây Nam. Là tôi chờ anh đấy. Tôi biết thể nào anh cũng về". Hai người tự nguyện ở với nhau. Người họ hàng xa mừng lắm vì khi ấy anh đã im lặng mấy tháng liền, sửa soạn ba-lô sắp đi đâu.
Hai người chuẩn bị sinh thằng con thì chính quyền địa phương gọi chất vấn. Anh chị lúng túng.
Mấy người ở đấy mắng mỏ rồi cũng giúp đỡ làm thủ tục phạt thóc bắt phải vác lên ngay. Người chồng (khi rời khỏi đây về lấy thóc có thể gọi như thế) vác một bao thóc lên nộp. Mọi chuyện đâu vào đấy. Có người bảo có sự can thiệp ở trên.
Mọi chuyện diễn ra đến một ngày thằng con anh đến tuổi đi học, phần kê khai lý lịch, phụ huynh phải tối thiểu hai đời. Là con ai? Là cháu ai? Trước đó phong thanh người đàn ông lùn (bây giờ còn lùn hơn và có chức hơn) đi về khu thị sát mấy hôm. Bây giờ dượng người đàn ông có thể kê khai như một đời thứ hai hẳn hoi đã là vị đứng đầu ở khu, uy thế lắm tiếp đón đoàn cấp trên. Hai người ấy đi nhiều nơi, bàn nhiều việc và tất nhiên có cả việc những hộ cá biệt. Việc xử lý chúng thế nào đó. Có thể trường hợp đứa con riêng đã được bàn đến. Có thể mở đầu người đàn ông lùn gợi ý: "Sao anh không vận động chúng nó đi khai hoang phía nam. Người ta đi ầm ầm". Người kia nhìn cấp trên rồi nhìn ra ngoài nói như nói đâu đâu: "Thì nó mới ở trong đó ra. Giờ đẩy vào người ta nhìn tôi ra sao?". Ông lùn vỗ vai: "Cậu coi chừng nó. Mấy thứ bậy bạ đẩy đi càng nhẹ người. Để tôi bảo mấy thằng ở dưới". Chuyện hai ông này cứ lừng khừng vậy, chẳng ra đâu, thỉnh thoảng tiện thì nhắc nhở trong thời gian cứ bập bềnh trôi.
Người đàn bà ngồi mãi dưới bếp. Chị hâm món đồ ăn đã nguội định mang lên rồi lại thôi. Nó lại nguội ngơ ngắt. Có khi đã quá nửa đêm. Hai người ở trên nhà lâu lâu cũng chả thấy gọi đến chị. Chị lẩn mẩn nghĩ đến anh, nghĩ đến cậu em đang ở trên nhà rồi lại nghĩ đến thằng bé. Thằng bé không biết năm nay Tết nhất ở đâu. Chị ngồi bó gối nhìn ngọn lửa liu riu chờ trời sáng.