Trong ngõ cụt

(Tiếp theo và hết)
Tấn không dậy nổi, bởi ký ức lại dắt anh về cái đêm mùa đông đưa vợ đi sinh. Hình như giá buốt trên thế gian này đã dồn tất vào mùa đông năm ấy, mỗi lần nhớ lại anh vẫn tê tái.

Trong ngõ cụt

Đêm Huệ trở dạ, gió mùa vẫn bổ sung. Các cây cổ thụ dọc ngang trong bệnh viện đồng vọng những âm thanh méo mó man dại. Đã thế, ánh sáng lạnh lẽo từ mấy bóng đèn tuýp đổ xuống hành lang dài hun hút của khoa sản, càng làm cho nơi thoát thai những sinh linh mới của cõi người vừa thiêng liêng vừa nghiệt ngã.

Chắc đau lắm, khuôn mặt Huệ lúc gồng lên cố chịu, lúc lại nhăn nhó rên rít sâu trong họng. Bước vào phòng cách ly, người vợ trẻ nhách miệng cười để chồng yên tâm.

Chung quanh vắng ngắt, thỉnh thoảng mới có người ra vào. Không rời mắt khỏi cánh cửa kính đục khép chặt, với dòng chữ “Cấm vào”, anh hà hơi vào hai lòng tay chà xát mạnh lên mặt, cố làm ấm hơn sự chờ đợi. Ở trong ấy nàng đang vượt cạn một mình. Đồng hồ đã chỉ 2 giờ 30 phút. Căng thẳng quá. Hồi ở chiến trường, trước giờ xuất trận, một mất một còn cũng không đến nỗi hồi hộp như thế này. Cửa phòng vô trùng khẽ mở. Tấn bật dậy lao về phía ông bác sĩ đang bước từng bước nặng nề đi ra.

- Anh là người nhà của sản phụ Nguyễn Thị Huệ ?

- Vâng.

- Mời anh vào phòng tôi.

Hai đầu gối Tấn sắp quỵ xuống vì nét mặt nghiêm trọng của bác sĩ. Giọng ông trầm, oải.

- Con anh là một bọc thịt nặng ba cân tư. Bên trong bọc thịt ấy có quả tim vẫn sống theo nhau thai…

Tai Tấn ù đặc. Anh không nghe rõ ông bác sĩ nói tiếp những gì. Trong anh chỉ hiện ra nụ cười của vợ cách đây vài giờ.

- Còn vợ tôi, thưa bác sĩ.

- Anh phải thật bình tĩnh, tình trạng hiện tại rất xấu. Chị nhà trụy tim do bị sốc, đang hồi sức cấp cứu. Chúng tôi muốn có mẫu máu của anh. Ông bác sĩ vừa viết tờ phiếu xét nghiệm vừa nói.

- Đi hết hành lang rẽ trái là phòng sinh hóa.

Gần sáng, gió đã lặng. Trong những tán cây vẫn thẫm mầu đêm. Hành lang dài toát lạnh. Tấn vòng đi vòng lại dọc hành lang ấy không biết bao nhiêu lần nữa. Anh đếm ngược rồi lại đếm xuôi từ một đến một trăm, từ một trăm về một, để quên đi sự bồn chồn lo lắng đang đè nặng tâm hồn mình. Chợt hai cánh cửa kính mờ đục của phòng sinh mở toang. Trong ấy không còn ai. Người ta đẩy Huệ ra ngoài trên chiếc băng ca trắng, tấm vải trắng toát trùm suốt thân thể nàng. Một tốp bác sĩ, y tá khẩu trang trắng, đồng phục trắng. Họ lặng lẽ lướt qua anh.

Bảy ngày sau Tấn mới đến bệnh viện để làm thủ tục cho sự mất mát của mình. Chắc trông anh tàn tạ lắm nên đôi mắt vị bác sĩ trưởng khoa hơn anh đến hai chục tuổi cũng u uất buồn. Ông nói: “Hơn ba mươi năm tôi làm bác sĩ sản, đã chứng kiến nhiều cảnh tử biệt, nhưng với anh tôi thấy như chính mình đang bị nỗi đau ấy dày vò...”. Bác sĩ không nói tiếp, ông đẩy về phía Tấn hai tờ giấy xét nghiệm máu của anh và sản phẩm do anh sinh ra. Chúng đều nhiễm chất độc da cam/dioxin.

Tấn dướn lông mày mở căng đôi mí mắt trĩu nặng để nhìn vào cái kết quả trước mặt. Hai mảnh giấy vô tri thôi miên anh… Tấn mơ hồ thấy từ đấy hiện lên cánh rừng đơn vị anh đi qua năm ấy. Đang mùa mưa mà cánh rừng cây lá khô tái như bị cháy nắng, bốn phía không vọng tiếng chim. Con suối không rộng, không dốc, nước chảy êm đềm trong vắt, nhìn rõ cả từng viên cuội nhỏ dưới đáy dòng, mà không thấy tăm cá… Ngẩng lên. Không thấy ông bác sĩ ngồi đối diện mình… Anh chỉ thấy mưa rừng. Mưa như những dải thủy tinh nối nhau buông dài chấm đất. Mưa chạm vào những cánh lá chết, nghe rõ từng âm thanh khô xác... Huệ nhòe trong màn mưa trắng đục ấy. Nàng đang giơ cao bọc thịt về phía mình…

***

Ngụp lặn trong ký ức, toàn thân Tấn rệu rã mỏi dừ. Tiếng gõ cửa buộc anh bật dậy. Thằng bé quãng gần mười tuổi, mặt mũi nhem nhuốc, nhưng vẫn toát ra nét thông minh từ đôi mắt đen trong suốt. Vai nó khoác chiếc tải thô ngàu bụi. Chân nó đi đôi dép nhựa vẹt gót, quần áo mầu cháo lòng xộc xệch nhàu nhĩ. Trông thấy Tấn thằng bé định bỏ chạy, anh kéo nó lại.

- Con cần gì?

Nghe chủ nhà gọi mình bằng con với giọng ôn tồn ấm áp, thằng bé trở lại tự nhiên của đứa trẻ sống bụi.

- Bà chủ quán nước đầu ngõ mách, nếu muốn vỏ chai rượu tây và vỏ bia lon thì hãy gõ cửa nhà bố.

Tấn bỗng rưng rưng khi nghe nó gọi mình là bố.

- Con học lớp mấy?

- Con không được đi học.

- Tại sao? Bố mẹ con đâu?

Nó trả lời thản nhiên:

- Bố nghiện ma túy, đã chết ở trong trại. Mẹ bán nhà, đem con gửi bà dì họ buôn đồng nát ở xóm bãi. Mẹ hẹn năm sau con đến tuổi đi học sẽ về đón. Sáu năm rồi chẳng thấy mẹ về.

Mắt thằng bé ráo hoảnh, nó cứ tưng tửng như nói về ai khác. Tấn cay nghẹt sống mũi khi nghe đứa trẻ kể về gia cảnh mình. Mới chớm một kiếp người, nó đã như vật hoang phế lăn lóc bên lề cuộc đời. Đứa trẻ sợ hãi giật lùi sát bậc cửa ra vào khi thấy mặt Tấn rúm ró.

- Trong ngực ta lại đau ấy mà, con đừng sợ.

Thằng bé chầm chậm đến sát Tấn. Nó đặt tay vào ngực trái của anh, nét mặt u ám.

- Bố đau ở chỗ này à.

- Ừ, bố đau ở đấy, nhưng bàn tay con chạm vào, bố thấy đỡ hẳn.

Thằng bé toét miệng cười. Nó vuốt nhẹ những sợi râu dưới cằm khiến tâm hồn người đàn ông chưa bao giờ được làm cha nhẹ bẫng.

- Trông bố giống hệt Hắc Toàn Phong Lý Quỳ.

- Ta giống lắm à?

- Vâng. Giống lắm.

- Sao con biết ông ấy?

- Con xem ké băng ở quán bia trên phố ấy mà.

- Ừ. Ta là ông Lý Quỳ của con đây.

Thằng bé lại cười tít.

- Từ nay ta sẽ để dành vỏ chai rượu, vỏ lon bia và cả bánh kẹo cho con nữa, nhưng đổi lại, mỗi ngày con phải chịu đến để ta dạy cho con biết chữ.

Nó nhảy cẫng, reo lên sung sướng.

Hai nỗi cô đơn quấn quýt nhau từ đấy. Mỗi lần thằng bé đến, trong nhà Tấn ấm hẳn. Ríu rít một già một trẻ.

- Bố ơi! Con viết tập xong rồi ạ.

- Đưa bố xem nào.

Từng nét chữ muộn mằn của bàn tay sớm phải giành giật miếng ăn, run run trên những dòng kẻ, run run sang tâm hồn Tấn. Kéo ghế, ngồi đối diện với nó, anh động viên mà kiên quyết.

- Bây giờ con đọc bản cửu chương nhé. Nếu con thuộc, bố sẽ dẫn con đi mua quần áo mới. Đồng ý chứ.

Lặng đi vài giây, thằng bé khẽ hắng giọng rồi tự tin đọc liền một mạch. Nó ngẩng lên chờ đợi quyết định của người dạy mình. Xoa lên mái tóc rối bù của nó, Tấn động viên: Con khá lắm.

Như đôi bạn vong niên, chậm rãi bách bộ qua từng con phố. Từ lúc đi cho đến lúc về, người già lắng nghe con trẻ líu lo nói, hỏi. Con trẻ lắng nghe người già giảng giải từng lời.

Muốn thằng bé mặc ngay quần áo mới, Tấn pha nước ấm, tự tắm cho nó như thuở xưa mẹ đã tắm cho anh. Thằng bé cũng co rúm người, cười như nắc nẻ mỗi khi anh chạm vào nách vào chim nó. Ngoài kia trời đang trở gió. Gió đập lách cách vào cánh cửa không khít khiến anh có cảm giác ngọn gió bấc vẫn luồn lách cái lạnh vào chút ấm áp mong manh của đời mình.

Anh thường không yên, mỗi khi thằng bé đang hồn nhiên vui cười bỗng dưng bần thần, đôi mắt ơ hờ lơ đãng. Hình như nó nghĩ, chỉ về với lớp lớp bụi đời kia, nó mới gặp lại mẹ mình. Nhiều lần, bỏ cả bữa anh đã làm xong, nó hấp tấp khoác cái túi cáu bẩn chạy vội ra ngoài. Hôm nay cũng thế. Tắm xong, nó chỉ mặc thử quần áo mới rồi cởi ra ngay. Nó bảo “con để dành đến Tết bố nhé.”

Đã mấy ngày nay không thấy thằng bé đến. Mấy phép tính anh giao nó đã làm xong. Cuốn vở vẫn mở ra trên bàn. Nhìn đôi dép cùng mấy bộ quần áo mới nó để lại, Tấn lại cồn cào. Anh ra đầu ngõ ngóng về hai ngả đường. Vừa quay vào ngồi chưa ấm chỗ anh lại ra đầu ngõ. Ánh mắt diễu nhại từ ô cửa nhà đối diện lại xoáy vào nỗi khát vọng làm cha của anh.

***

Mỗi buổi sáng, rót chén rượu đặt trước chân dung vợ, chờ nhang cuốn tàn, Tấn mới nâng lên uống cạn trước lúc ngồi vào bàn làm việc. Chợt anh hốt hoảng khi nghe tiếng kêu thất thanh của chị Béo.

- Ối giời đất ơi! Ối Lài ơi…ời!

Anh vội chạy sang nhà đối diện. Mọi người đã đứng quanh thi thể tím tái của thiếu phụ bên mấy vỉ thuốc ngủ. Chị Béo nói trong giàn giụa nước mắt.

- Mấy hôm nay cô ấy cứ lải nhải như bị ma ám. “Chị Béo ơi. Em sợ lắm…đêm nào cũng thấy những đứa trẻ quái dị ùa về nhận mẹ”. Tôi bảo: “Tại cô cứ hát ru, như thể gọi chúng về ý...”. Mọi sáng, giờ này Lài đã ra trông hàng giúp để tôi đi chợ. Ngỡ Lài ngủ quên, tôi vào đánh thức mới biết cô ấy đã bỏ cả ngõ mình đi xa lắm rồi. Sao lại dại dột thế em ơi…

Cái chết của Lài đã nguôi ngoai trong ngõ, nhưng Tấn vẫn thấy nhoi nhói trong lòng. Cô ấy đâu có tội khi không sinh được ra con người. Càng nghĩ, Tấn càng ân hận vì chính mình đã đố kị với ánh mắt khao khát của sự cô đơn ấy. Chính sợ sự cô đơn vây bủa, Lài đã chạy trốn cuộc đời còn lại. Còn anh, dẫu nhận thấy chỉ nỗi đau thực sự mới xuyên thẳng tới trái tim con người, nhưng lí trí hơn nên anh không hành động như thế, mặc dù chất độc kia sẽ tồn tại đến lúc tim anh ngừng đập. Mặc dù sự cô đơn cũng vây bủa, cũng khiến Tấn quỵ ngã nhưng anh đã có rượu cứu rỗi. Chỉ có rượu mới vực anh dậy nổi. Một mình một rượu. Đọc và viết. Tấn viết về số phận từng mảnh đời đã gặp. Nhất định không đưa con chữ mon men vào cuộc đời mình. Thế mà cái ngòi bút chết tiệt trên tay anh đang lan man tận đẩu tận đâu lại cứ quay về xoáy vào vùng đau bất tận của chính mình, của Lài, của những người không được làm cha làm mẹ. Đau lắm. Có lần Tấn vò nát bản thảo gục xuống bàn. Chết lặng.

Đã nhiều ngày cũ đi qua, nhiều ngày mới đã đến. Tấn chẳng đọc, chẳng viết được gì. Anh chỉ lắng tiếng lách cách của những vỏ lon bia va vào nhau trước cánh cửa nhà mình.