<p>Nhà nghiên cứu sân khấu Nguyễn Huy Hồng</p>

Tôi đã trả lời bằng nửa thế kỷ...

Sau gần nửa thế kỷ suy ngẫm về văn hóa Việt và rối nước Việt cổ, nhà nghiên cứu sân khấu Nguyễn Huy Hồng đã và đang rất ưu tư về nguy cơ mất hồn dân gian, dân tộc đã nhỡn tiền của Rối nước Việt cổ truyền. Ðối thoại với tôi về số phận Rối nước Việt, ông thường thích bắt đầu bằng độc thoại và sự hoài nhớ về thời huy hoàng của Rối nước đầu thập niên 80 của thế kỷ 20, đã từng ngoạn mục chinh phục công chúng phương Tây ngay từ lần xuất ngoại đầu tiên năm 1984.
Tôi đã trả lời bằng nửa thế kỷ...

Nguyễn Huy Hồng tâm sự: Tôi luôn ngạc nhiên khi thấy người Việt, trẻ em Việt lại không mấy nao nức xem nghệ thuật rối nước của mình? Và, rối nước, vốn là của cải văn hóa phi vật thể đặc sắc bậc nhất Việt Nam, cách đây chừng bảy, tám năm, khi Việt Nam đưa hồ sơ đề nghị UNESCO phong tặng ngôi vị "di sản văn hóa phi vật thể" của thế giới, lại bị trả về, vì chưa đủ minh chứng: đây là sân khấu dân gian lâu đời và độc đáo duy nhất chỉ có ở làng quê Việt.

- Nguyễn Thị Minh Thái:Vậy thì theo ông, trách nhiệm trước hết thuộc về ai? Việt Nam đã có Luật Di sản Văn hóa, đã có các cơ quan quản lý văn hóa, mà các di sản, nhất là di sản văn hóa phi vật thể, đặc biệt là di sản nghệ thuật biểu diễn sân khấu cổ truyền Việt... vẫn cứ bị rơi vào tình trạng bạc phai, thậm chí mất bản thể quý giá nhất là hồn vía của chúng, nét văn hóa dân tộc của Việt Nam?

- Nguyễn Huy Hồng: Tôi nhớ năm 1984, lần đầu, Ðoàn nghệ thuật sân khấu dân tộc Việt Nam, với bốn loại hình: Rối nước, Tuồng, Chèo, Cải lương đã "đem chuông đi đấm nước người"... ròng rã hai tháng trời, ở Ðức (cả hai nước Ðức lúc đó), Bỉ, Pháp, I-ta-li-a. Công chúng Tây Âu choáng váng nhất là Rối nước Việt. Chỉ với mấy nghệ nhân nông dân của phường rối cổ Thái Bình, và hơn chục trò rối cổ, cùng hàng trăm con rối, nghệ thuật rối nước Việt đã dựng dậy cả một thế giới kỳ thú, lung linh huyền ảo trên mặt nước, tái hiện cuộc sống ngàn đời của người nông dân Việt đi cấy đi cày, hai sương một nắng trên những cánh đồng lúa bạt ngàn châu thổ Bắc Bộ. Báo chí Tây Âu dành lời đẹp nhất cho Rối Việt: Múa rối nước, nghệ thuật dân gian, huyền thoại và kỳ ảo trên mặt nước. Sự phát hiện chói lòa về những con rối Việt Nam.

...Tính dân gian và tính huyền thoại kết hợp với nhau trong những màn kịch ngắn được đệm theo bằng tiếng hát, bằng tiếng nhạc của bộ gõ nâng đỡ: một cuộc sống thần tiên, ngây thơ đang làm xáo động mặt nước đen tù túng. (Báo Thập Tự, Pháp, 10-3-1984). Và lời cảnh báo: Người châu Âu nên hiểu rằng không phải chỉ một mình châu Âu, mà ngoài châu Âu, còn có nhiều nền văn hóa khác.

Sau 1984, hằng năm, rối nước Việt liên tiếp xuất ngoại và bản đồ chinh phục đã mở rộng đến... nước Mỹ, ngay thời kỳ hậu cấm vận và từ đó đến nay, rối nước Việt luôn luôn là "đầu bảng" trong lựa chọn thưởng thức của người Mỹ và không chỉ người Mỹ...

- Thưa ông, tôi ngờ rằng, người xem phương Tây đã phải lòng rối nước cổ truyền Việt theo cái cách mà nhân loại văn minh từng được hân hoan trở về giấc mơ rực rỡ thời thơ ấu của mình, qua cây cầu văn chương là thần thoại Hy Lạp. Rối nước Việt Nam - có lẽ - bằng sự hồn nhiên, ngộ nghĩnh, ngây thơ, mang linh hồn đồng ruộng Việt Nam... đã tự nhiên bắc được cây cầu sân khấu, đưa nhân loại về bản nguyên thơ dại của mình...

- Có thể đúng là như vậy. Quả là công chúng nước ngoài, cả phương Tây lẫn phương Ðông đều mê thích Rối nước Việt. Song, có một nghịch cảnh là: những chương trình hiện đang biểu diễn ở các đô thị Việt Nam, kể từ sau 1984, hầu như không còn là rối nước cổ truyền nữa. Thay vì phát huy, có nơi đã làm động thái phát triển, bằng cách thêm thắt cho rối cổ những cái mới: kịch bản, lời thoại (khi căn cơ nghệ thuật biểu diễn rối cổ hoàn toàn là sự xâu chuỗi các trò lẻ, không lời, chỉ thuần động tác của diễn viên là con rối gỗ), hơn nữa, lại thêm nếm hát chèo, nhạc chèo, tỷ lệ nhiều đến mức phá vỡ cấu trúc trò diễn và cái đẹp trong những động tác sân khấu của con rối gỗ, khiến người xem nhầm tưởng đây là sân khấu "rối-chèo". Ấy là chưa kể có nơi như TP Hồ Chí Minh đã từng đưa cả người thật lội vào diễn với con rối ngay trên sân khấu nước, gây phản cảm. Và quanh đi quẩn lại, vẫn chỉ có hơn chục trò rối cổ, mà "pha loãng" ra, thí dụ trò lẻ cổ truyền: Long-Ly-Quy-Phượng, đã bị bẻ ra làm bốn, thành rồng phun nước, phun lửa, lân tranh cầu, rùa ngụp lặn... Nhân danh "chuyên nghiệp hóa", "nâng cao, phát triển", người ta đã vô tình đánh mất hồn rối nước cổ truyền. Vậy thì hồn vía này ở đâu? Cái đẹp nào bị mất? Tôi cho rằng, hồn vía rối cổ gắn liền thân mật với không gian văn hóa châu thổ sông Hồng, với nền văn minh lúa nước điển hình ở chính cái không gian lộng lẫy vẻ đẹp folklore này. Mất đi tương quan đó với không gian gốc này của văn hóa Việt, là rối nước mất hồn, mất luôn cả vẻ đẹp nguyên thủy tự thân.

Rối nước cổ truyền đích thực phải là rối nước nhà nghề cha truyền con nối, tồn tại hàng thế kỷ trong làng nghề truyền thống, trong các phường rối gia truyền của khắp các làng quê châu thổ Bắc Bộ, như: Rối cổ Nguyên Xá (Thái Bình), Nam Chấn (Nam Ðịnh), Ðào Thục (Hà Nội)... cùng hàng ngàn con rối được đẽo gọt công phu, chế tác tinh tế, sơn phết rực rỡ, với các thế hệ nghệ nhân rành nghề điều khiển con rối trên mặt nước ao làng. Từ bàn tay tài hoa của họ chế tác và điều hành, đã tỏa sáng cái đẹp của rối nước, vốn nằm trong các động tác ngây thơ, ngộ nghĩnh của con rối khi ẩn khi hiện trên mặt nước phản chiếu lung linh, diễn tả sinh động cuộc sống ruộng đồng của người dân quê Việt.

 Rối nước đích thực là nghệ thuật của ao làng. Sẽ chỉ tìm thấy bản thể đặc sắc của rối nước, nếu trả nó về với khung cảnh văn hóa vùng châu thổ sông Hồng rộng lớn, với hội làng xuân thu nhị kỳ, đến hẹn lại lên, đậm đặc không khí hội hè đình đám của văn hóa nông nghiệp truyền thống.

Từng nhiều năm điền dã hàng chục tỉnh châu thổ sông Hồng, tận mặt khoảng 30 phường rối nước dân gian, tôi thống kê được 600 trò rối cổ, và lọc ra 250 trò độc lập. Ðây đích là rối cổ vàng ròng, phải được khai thác, thanh lọc, xếp loại, đánh giá, đặng tìm đặc trưng rối nước Việt cổ.

- Ông đã lụi cụi vài chục năm viết sách về văn hóa dân gian Việt và Rối nước Việt. Sau ba đầu sách được khẳng định bằng giải thưởng Nhà nước 2006, ông hằng năm tiếp tục ra sách về rối nước. Gần đây nhất, sách nghiên cứu "Nghệ thuật múa rối dân gian" của ông xuất bản 2010 đã được trao giải thưởng Văn học - Nghệ thuật Thủ đô Hà Nội năm 2011. Ông được những nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài đánh giá rất cao về thành tựu nghiên cứu. Nhưng, có người lại ái ngại vì thấy ông quá cô độc và có thể là đơn độc trong nghiên cứu?

- Có lẽ phải giải thích bằng số mệnh thôi. Tôi tin Rối nước Việt giống như người tình, luôn cắc cớ hỏi tôi câu hỏi mà tôi phải bỏ cả đời nghiên cứu để trả lời: Trăng lên đỉnh núi trăng tà/Mình yêu ta thật hay là yêu chơi? Và tôi đã trả lời bằng nửa thế kỷ nghiên cứu văn hóa dân gian Việt và Rối Việt cổ truyền, là tôi đã yêu thật lòng chứ đâu phải yêu chơi?

- Rất cảm ơn ông đã có một cách ứng xử văn hóa đích đáng với văn hóa Việt và  Rối Việt cổ truyền, cùng cuộc chuyện trò thú vị này.

* Nhà nghiên cứu sân khấu Nguyễn Huy Hồng (sinh năm 1927, tuổi Ðinh Mão) đã để cả đời nghiên cứu nghệ thuật rối nước cổ truyền Việt tại cái nôi sinh thành là châu thổ Bắc Bộ. Bản thân ông, theo tinh thần định nghĩa của UNESCO, có thể coi là "báu vật sống" của nghệ thuật rối nước cổ truyền Việt. Ông còn là Chủ tịch UNIMA (Hiệp hội múa rối thế giới) Việt Nam. Ông đang sở hữu bảo tàng Rối nước tại gia, ở một ngôi làng cổ, làng Ðồng Vàng, cách Hà Nội hơn 40 km.

Có thể bạn quan tâm