Tình yêu vỗ cánh

Mùa thu năm 1972, trung đoàn 42 được Bộ Tư lệnh mặt trận trang bị cho một chiếc máy vô tuyến 15 oát. Loại máy phải có hai người quay ma-ni-ven (máy phát điện quay tay), một người gõ ma-níp đánh mật mã tặc tè truyền tin đến nơi nhận. Để tránh rò rỉ thông tin, nơi nhận và nơi gửi phải có nhân viên cơ yếu dịch những dòng ký hiệu mật mã ấy thành những thông điệp báo cho nhau.

Tình yêu vỗ cánh

Trung đoàn trưởng Nguyễn Chung Kết nhấc máy hữu tuyến gọi xuống tiểu đoàn công binh, hỏi: “Này, cái đồng chí nữ quân nhân quê Hải Phòng hôm trước phát hiện ra hang ổ của lũ thám báo ở rừng le, tên là gì nhỉ”. “Báo cáo tên đồng chí ấy là Hát ạ”, tiểu đoàn trưởng công binh trả lời. “Đồng chí ấy có tốt không?”, Nguyễn Chung Kết hỏi tiếp. “Báo cáo, không những rất tốt mà còn năng nổ, dũng cảm nữa”. “Tôi sẽ điều đồng chí ấy về trên trung đoàn bộ nhận nhiệm vụ mới! Ngay ngày mai, nhé!”. Người thứ hai sẽ là ai nhỉ? Nguyễn Chung Kết quay sang bảo chú lính công vụ xuống trung đội giao liên truyền lệnh cho Hạ sĩ Hoan lên gặp ông. Nguyễn Chung Kết có thiện cảm với Hoan từ cái dịp ông cùng với hai anh trợ lý quân lực ra Bãi Hà họp giao ban mặt trận. Hôm ấy Hoan dẫn đường cho đoàn thương bệnh binh từ tuyến trong ra Bãi Hà. Kết bảo Hoan đợi ông họp xong rồi cùng về. Bãi Hà là trạm giao liên cuối cùng trên đất bắc, thuộc miền tây Vĩnh Linh, nơi thượng nguồn sông Bến Hải, trong một khu rừng già với những cây cổ thụ cao vút, dây leo chằng chịt, quân ra, quân vào nườm nượp. Bộ đội, thanh niên xung phong gặp nhau cười nói lao xao với đủ giọng bắc, trung, nam. Hôm trung đoàn trưởng Kết ra họp, binh trạm tặng ông một con lợn cỡ 40 ki-lô-gam do họ tự nuôi được. Hai cậu trợ lý quân lực cứ dừa nhau không muốn mang về. Hoan liền xắn tay chộp hai chân sau con lợn nhét vào cái bao, vác lên vai, bước phăm phăm. Dọc đường phải leo dốc, vượt núi, con lợn tè ra ướt đẫm lưng áo Hoan. Kết thấy ái ngại cho cô. Gặp một dòng suối, Kết rút con dao găm đưa cho Hoan: “Này đồng chí nữ chiến sĩ, tiện gặp dòng suối đây, ta xả thịt con lợn, mỗi người mang một ít cho nhẹ vai!”. Hoan bảo: “Thủ trưởng cứ để tôi mang. Thủ trưởng sẽ thấy tôi khuân cả con về là có lý đấy”. Về trung đoàn bộ, Hoan giao con lợn cho tiểu đội nuôi quân. Họ cắt tiết đánh tiết canh, làm món lòng sốt, cả cơ quan trung đoàn bộ được một bữa thịnh soạn “quên chết”. Trung đoàn trưởng yêu quý Hoan từ bữa ấy. Bây giờ có cái máy 15 oát, là cơ hội để ông tạo điều kiện cho Hoan về đó.

Chỉ còn thiếu một, nhưng là người quan trọng nhất: biết gõ ma-níp truyền tin. Kết gọi lên Bộ Tư lệnh mặt trận “xin”. Trưởng ban quân lực hỏi: “Nam hay nữ?”. Kết đáp: “Ở đây có hai nữ rồi, thêm một nữ nữa, cùng ở một hầm cho tiện”.

Người nữ quân nhân được Bộ Tư lệnh mặt trận điều về tên là Hảo, 25 tuổi, cấp bậc Chuẩn úy. Hát tuổi 21, cấp Trung sĩ. Hạ sĩ Hoan ít tuổi nhất, mới 19. Trung đoàn trưởng Kết gặp họ động viên sôi nổi. “Nhiệm vụ mà các đồng chí sắp làm rất đặc biệt. Phải là những người có chí tiến thủ, có thành tích mới được đưa về đây. Quái, duyên giời thế nào mà ba đồng chí đều mang tên chữ đầu là H nhỉ! Vậy thì từ nay cứ gọi cái tổ thông tin 15 oát này là Pháo đài 3H nhé! Vừa giữ được bí mật quân sự, vừa phản ánh đúng tầm quan trọng của nó!”.

Nguyễn Chung Kết phân công đích danh viên tham mưu phó trung đoàn hướng dẫn cho 3H làm hầm. Đấy là một vách núi có một cái hàm ếch. Họ chỉ việc chặt cành cây đóng xuống, đắp đất dày một mét là thành vách hầm thứ hai. Trước cửa hầm, đắp thêm một vách đất nữa để tránh mảnh đạn bay theo chiều dọc vào trong hầm. Từng là quân 15 oát của Bộ Tư lệnh mặt trận, Hảo hướng dẫn cho Hát và Hoan phá mấy cái hòm đạn đại liên ghép thành cái bàn đặt máy và một cái ghế băng đặt ma-ni-ven ở giữa, hai đầu ghế dành cho hai người ngồi quay. Ngoài cùng căn hầm họ dùng tre nứa ghép thành một cái giường đủ cho ba người nằm. Rồi họ thiết kế được cả chỗ giá súng, đặt ba-lô. Họ đặt ăng-ten trên sườn núi ròng dây xuống máy. Viên tham mưu phó cho chuyển cả tổng đài hữu tuyến sang căn hầm ấy giao cho ba cô gái. Ngoài những giờ phải lên máy 15 oát thì họ thay phiên nhau trực tổng đài. Họ làm quen với nhau rất tự nhiên và bắt tay vào công việc nhanh chóng.

Nơi trung đoàn bộ đóng quân là những cánh rừng nguyên sinh, với những thân cây cổ thụ to lớn đến cả chục người nối tay ôm chung quanh vẫn không xuể. Khí hậu thay đổi lạ lùng. Chỉ cách nhau một đoạn đường ngắn mà bên tây thì nắng nóng, bên đông thì mưa và lạnh. Buổi sáng, ba chị em thường leo lên sườn núi đứng nhìn bao quát, chiêm ngưỡng rừng núi Trường Sơn hùng vĩ, thơ mộng. Tuy là nơi trú quân của trung đoàn bộ lắm người qua lại, nhưng chung quanh vẫn còn những nét hoang sơ của rừng già. Những tiếng hú lanh lảnh của đàn vượn gọi bầy, tiếng ríu rít của đàn chim tìm quả trong những vòm cây. Thỉnh thoảng phía bên kia sườn núi lại vang lên từng hồi đơn độc của chú chim “bắt cô trói cột”.

Ban ngày, trên bầu trời, những chiếc máy bay trinh sát L19, 0V-10 cứ vè vè, ò ò lùng sục. Ban đêm, những chiếc máy bay cánh quạt “Bà già C130” ầm ầm ì ì thay nhau bay dọc tuyến đường đi vào của bộ đội từ bắc vào. Thỉnh thoảng chúng lại bắn một loạt đạn từ trên cao xuống. Hảo nói:

- Loại máy bay này được trang bị kính ngắm hồng ngoại, nên chúng bắn vào những chiếc xe vận tải, xe thiết giáp của ta chạy trong đêm khá chính xác. Nghe những tiếng nổ cứ như “xin thùng, xin thùng!”. Cánh lính lái xe Trường Sơn ngại nhất lũ này, họ gọi chúng là loại “Máy bay tử thần” đấy!

Hảo quê thành phố Nam Định, vào chiến trường đã sáu năm, là sĩ quan dự bị nên được phân công tổ trưởng. Thân người Hảo nhỏ nhắn, cân đối. Gương mặt trông đầy đặn, phúc hậu, bị sốt rét nhiều lần quá, trên đầu chỉ còn lơ thơ mấy sợi tóc. Lúc nào Hảo cũng phải đội chiếc mũ mềm để che đi cái đầu trọc. Lính 15 oát của Bộ Tư lệnh mặt trận, Hảo thừa nhận mình không vất vả gian nan bằng Hát và Hoan. Nhưng các loại vũ khí, các kiểu đánh phá của địch không còn xa lạ với Hảo. Hảo ghét nhất là lũ vắt. Trên đường đi công cán, vào những ngày mưa, qua những khu rừng rậm hoặc những bãi lau, Hảo thường bị những “dàn” vắt bất ngờ tấn công. Nó tấn công bí mật đến nỗi khi đã hút no máu, tự lăn ra khỏi cơ thể Hảo mới biết. Nhiều lần rồi thành quen, không còn biết sợ nữa. Bây giờ thì Hảo lại thích vào rừng một mình, say sưa tìm những sản vật mà rừng ban tặng cho con người. Hôm nào chiến sự bớt căng thẳng, Hảo dặn Hát và Hoan trực, còn cô tranh thủ vào rừng tìm củ sắn (củ mỳ), đào cây sâm đất, hái rau môn thục, lá bứa.

Trực tổng đài và máy 15 oát ban đêm thường rất đói. Có một bữa ăn phụ và uống cốc nước sâm đất thì không gì sảng khoái cho bằng. Hảo còn hướng dẫn cho Hát và Hoan cách phân biệt giữa cây môn thục với cây rau ngải dại. Hảo từng bắt gặp những người lính đi hái rau môn thục nhầm sang cây rau ngải dại. Ăn phải rau này, sẽ ngứa từ trong ruột ra đến miệng, chỉ muốn thò cả tay vào trong bụng để cào cho đỡ ngứa. Hảo nói, đi kiếm rau rừng, gặp tất cả những loại cây, lá có vị đắng, ngọt thì tuyệt đối không được đụng đến, rất dễ bị ngộ độc. Còn những loại rau lá có vị chua có thể vô tư ăn được.

Hát quê thành phố Hải Phòng, từ tiểu đoàn công binh lên trung đoàn bộ với một chiếc ba-lô căng phồng. Trận sốt rét khiến Hát phải nằm co hằng tuần, mới gượng dậy, người hãy còn khật khừ, èo uột. Hát chưa bị rụng tóc như Hảo, nhưng nước da xanh bủng, lại có một vết sẹo khá to như con tắc kè đậu trên má, hậu quả của một lần bị thương vì đạn cối. Không đủ thuốc men, vết thương nhiễm trùng để lại vết sẹo như thế.

Hoan mở giúp cái ba-lô cho Hát. Mấy bộ quân phục chưa kịp giặt, dăm bảy phong lương khô “nội địa” dành cho lính, vài bánh lương khô 702 dành cho sĩ quan. Hoan thọc tay sâu vào ba-lô, còn lôi ra vài ba thứ: bao thuốc Bastos Quân tiếp vụ, dao cạo râu cụp xòe, một cái bật lửa Zippo... toàn là đồ Mỹ cả. Nhưng “khủng” nhất là một dây xanh-tuya-rông kèm theo cả một bộ đồ lính trận của Mỹ: lưỡi lê tháo từ súng AR15 ra, bình tông bằng i-nox, mấy vỏ bao đựng băng đạn cực nhanh. Một cái túi đựng mìn Claymos, dùng để đựng đồ khoác qua vai rất tiện.

- Sao cậu lại có mấy thứ này? Thương binh từ tuyến trong ra ném lại cho hả Hát? - Hoan hỏi.

- Đơn vị tớ xơi gọn một tổ thám báo, thu được chiến lợi phẩm. Nghe tin tớ được chuyển lên trung đoàn, tiểu đoàn trưởng tặng tớ. Vì tớ có công phát hiện ra lũ thám báo ở rừng le, chạy về báo cho đơn vị.

Sống với nhau một thời gian, Hảo và Hoan đều phải thừa nhận, nói về khoản trận mạc, Hát có nhiều chuyện để nói hơn. Nó kể tên, công dụng từng loại vũ khí cả của bên ta lẫn bên địch. Hát chỉ tiếc, tiểu đoàn không cho cô mang theo khẩu tiểu liên AR15 của Mỹ lên đây. Súng AR15 tiếng kêu nhỏ, đi săn thú rừng đỡ bị lộ. Đạn AR15 bắn vào con thú, vết thương không bị xé ra như đạn tiểu liên AK của ta. Hát nói thế.

Hát kể, cách đây chưa lâu, cô chứng kiến đơn vị hỏa lực của bộ binh ta phối hợp với tiểu đoàn công binh của cô đánh chặn đội hình hành quân của đơn vị lính dù địch. Súng B40 thường là để đánh xe tăng, xe cơ giới; nhưng hôm ấy một người lính ta đã dùng B40 bắn bộ binh. Với sức nóng hơn ngàn độ, quả đạn tạo ra hiệu ứng y như quả mìn định hướng rất khủng khiếp, nó thổi bay cả một trung đội lính dù ngụy. Những xác chết lăn lóc, cháy thành than, cong queo như que củi.

Tuổi đời và tuổi quân ít hơn so với Hảo và Hát, nhưng những ngày tháng làm chiến sĩ giao liên cũng đủ giúp Hoan hiểu thế nào là mùi vị của chiến tranh. Những rừng cây săng lẻ rộng mênh mông, cuối mùa khô hoa nở tím ngát cả một góc trời. Những rừng khộp thưa thớt, mùa khô cây trụi lá trơ cành. Những chiếc lá khộp to như chiếc bánh đa nướng rụng xuống, phủ kín mặt đất. Những rừng le tán lá phủ dày đặc, với một mầu xanh trải rộng nằm dọc hai bên bờ suối. Những dốc đá tai mèo thẳng đứng. Từ dưới chân núi nhìn lên, có chiếc thang bằng dây song rừng chênh vênh bồng bềnh như trôi trong mây trắng. Nhiều người lính lần đầu qua đây rùng mình khi nghĩ đến việc phải đu bám trên những cái thang đó. Nhưng Hoan vẫn thường leo qua, không những thế, cô còn làm điểm tựa cho những người lính yếu bóng vía đeo bám.

Người lính giao liên đáng ngại nhất là khi con đường cũ bị bom cày nát, phải phát cây rừng mở một con đường mới, vừa mở vừa dò gỡ mìn. Những quả mìn chống bộ binh giống như cái hộp nhựa to bằng nắm tay, có dập nổi chữ A trên nắp. Nếu không may dẫm vào, một nửa cẳng chân sẽ đi đứt. Mìn nhảy thì ác hơn. Nó giống như cái ống bơ, loại một ki-lô-gam, trên đầu gắn cái kíp có ba sợi dây cước tõe ra ba hướng. Nếu ai sơ sẩy chỉ cần khẽ chạm vào một sợi, quả mìn sẽ nhảy lên cao ngang ngực rồi mới nổ. Người lính không may ấy sẽ bị cắt làm đôi.

Có hôm, Hoan đang dẫn một đoàn quân từ Bãi Hà vào, đến một quãng trống thì dính pháo bầy. Nghe những tiếng “tùng tùng tùng tùng...” liên tục, tưởng như không bao giờ dứt, mảnh bay vù vù, chém phầm phập vào cây rừng, vào vách đất. Cả một vùng đất chi chít hố pháo, một ngọn cỏ cũng không còn nguyên vẹn. Nhưng may sao hôm ấy đạn rơi chếch, cách đoàn quân mấy chục bước chân, một số người chỉ bị thương nhẹ.

Về mặt trải nghiệm chiến trường, Hoan cũng có vô khối chuyện để góp với Hảo và Hát. Hoan chỉ mang chút mặc cảm về hình thể của mình. Người Hoan đã gầy lại cao tới 1 mét 65, trông càng lêu đêu. Không ít lần dẫn quân ra, vào, cũng có những người lính tỏ ra thiện cảm với Hoan, nhưng họ chỉ tán tỉnh cho vui chứ chưa ai ngỏ một lời hẹn ước...

(Còn nữa)