Sự cân bằng của nỗi sợ hãi

Một không gian chật chội

Vào một ngày trung tuần tháng 9 vừa qua, khi các nhà lãnh đạo ba nước Anh, Mỹ, Australia công bố chính thức thỏa thuận đối tác an ninh 3 bên (AUKUS), theo đó Mỹ sẽ chia sẻ công nghệ hạt nhân với Australia, giúp nước này có hạm đội gồm ít nhất 8 tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân, người ta đã chứng kiến một bước ngoặt đầy kịch tính trong tiến trình kiềm chế vũ khí hạt nhân: một quốc gia có thể có được công nghệ hạt nhân cho hệ thống vũ khí của mình mà không cần phải đi sâu, nghiên cứu làm gì.

Tàu ngầm hạt nhân USS Missisippi lớp Virginia của Mỹ.
Tàu ngầm hạt nhân USS Missisippi lớp Virginia của Mỹ.

Như vậy là sau 63 năm, Mỹ mới lại chia sẻ loại công nghệ hết sức nhạy cảm này cho một quốc gia khác, kể từ thỏa thuận chuyển giao công nghệ hạt nhân với Anh năm 1958. Nó cho thấy một bước chuyển biến căn bản trong chính sách của Mỹ: vì lợi ích địa chính trị nào đó (trong trường hợp cụ thể AUKUS là muốn kiềm chế Trung Quốc), Mỹ có thể từ bỏ chính sách không phổ biến những loại vũ khí và công nghệ tiên tiến để chuyển sang “chia sẻ có điều kiện” những loại vũ khí và công nghệ này cho đồng minh hay đối tác nào đó.

Chỉ hơn hai tháng sau khi thỏa thuận chia sẻ công nghệ hạt nhân với Australia trong khuôn khổ AUKUS được công bố, ngày 20/11, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã phê duyệt đề xuất chuyển giao công nghệ động cơ hạt nhân hải quân cho Australia. Hai ngày sau, các đại diện của 3 nước Anh, Mỹ, Australia đã ký thỏa thuận đầu tiên trong hợp đồng cung cấp động cơ cho 8 tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân cho Canberra, cho phép 3 bên “trao đổi thông tin nhạy cảm về hệ thống động cơ hạt nhân hải quân”.

Mặc dù Australia còn lâu mới có thể sở hữu được những tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân theo công nghệ của Anh-Mỹ, sớm nhất là 2030, muộn có thể đến 2040, thế nhưng thỏa thuận chia sẻ công nghệ hạt nhân trong khuôn khổ AUKUS đã kích hoạt một cuộc đua dưới lòng biển ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Ấn Độ, Triều Tiên, Hàn Quốc đã hoặc bắt đầu sở hữu, hoặc lên các kế hoạch phát triển tàu ngầm hạt nhân cho chính mình. Nhìn vào tiền lệ do AUKUS tạo ra, ai dám bảo đảm là Mỹ, vì các lợi ích địa chính trị của mình, lại không tiếp tục chia sẻ “có điều kiện” công nghệ hạt nhân cho một đồng minh hay đối tác của Mỹ?

Ấy là chưa kể với sự có mặt hùng hậu của lực lượng tàu ngầm hải quân Mỹ (tất cả tàu ngầm của Mỹ đều chạy bằng năng lượng hạt nhân) ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương với ít nhất là 24 chiếc luôn được triển khai ở bất kỳ thời điểm nào.

Nước Anh, đang đi tìm vị thế cường quốc của mình sau Brexit, dù có vị trí địa lý khá xa khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, thế nhưng cũng duy trì lực lượng hải quân thường trú ở trong khu vực. Xét trên một thực tế là Anh sở hữu hạm đội nhiều tàu ngầm hạt nhân (một số có thể được Australia mua trong khuôn khổ AUKUS), có thể thấy là Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương khá chật chội trước những tham vọng hạt nhân của các quốc gia cả trong và ngoài khu vực.

“Thần đèn hạt nhân” ở trong chai

Cách đây không lâu, Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc, bà Izumi Nakamitsu đã phát biểu tại Hội nghị trực tuyến chính sách hạt nhân quốc tế 2021, cảnh báo rằng nguy cơ sử dụng vũ khí hạt nhân đang ở mức cao nhất kể từ sau Chiến tranh lạnh. Nguyên do lớn nhất của tình trạng này là cơ chế kiểm soát vũ khí hạt nhân đang “tiếp tục suy thoái” mà hiển hiện nhất là nền tảng ổn định chiến lược Mỹ-Nga đang suy yếu nghiêm trọng.

Nền tảng ổn định đó được xây dựng dựa trên học thuyết về sự bảo đảm hủy diệt lẫn nhau (MAD), trong đó kiểm soát vũ khí hạt nhân đóng vai trò then chốt. Học thuyết này bảo đảm rằng sức mạnh hạt nhân của một nước có thể chịu đựng và sống sót qua được đợt tấn công (hạt nhân) đầu tiên của đối phương và tiến hành đòn giáng trả, kết quả là cả hai bên đều cơ bản bị hủy diệt.

Chính nỗi lo sợ về sự hủy diệt lẫn nhau đó đã giữ cho “thần đèn hạt nhân” ở an toàn bên trong cái chai kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, mặc dù cả Mỹ và Liên Xô (sau này là Nga) đều ra sức hiện đại hóa hệ thống vũ khí hạt nhân của mình để nâng cao khả năng tồn tại và năng lực giáng đòn thứ hai, răn đe đối phương không phát động tiến công bằng vũ khí hạt nhân.

Kết quả hầu như duy nhất của quá trình này là sự cân bằng về sức mạnh tấn công bằng vũ khí chiến lược giữa hai nước liên tục bị phá vỡ, không tránh khỏi dẫn tới cuộc chạy đua vũ trang trong lĩnh vực hạt nhân dường như không có điểm dừng.

Nhưng cũng chính sự cân bằng dựa trên nỗi sợ hãi đã khiến cho cả Nga và Mỹ phải đối thoại để đạt được hàng loạt các thỏa thuận về kiểm soát vũ khí hạt nhân, như Hiệp ước chống tên lửa đạn đạo Xô-Mỹ ký năm 1972, Hiệp ước Xô-Mỹ về các lực lượng tên lửa tầm trung (INF) ký năm 1987. Năm 2014, do cuộc khủng hoảng xung quanh Ukraine, quan hệ Nga-Mỹ rơi xuống mức thấp nhất kể từ sau Chiến tranh lạnh, Mỹ dừng đối thoại ổn định chiến lược với Nga.

Khi ông Trump vào Nhà Trắng, hai nước đã không những không thể gia hạn được hiệp ước cắt giảm vũ khí chiến lược mới mà dựa trên cáo buộc Nga vi phạm INF, Mỹ còn đơn phương rút khỏi Hiệp ước INF và Hiệp ước Bầu trời mở, khiến cho sự ổn định chiến lược song phương bị phá hoại nghiêm trọng.

Đó cũng là lý do khiến Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc phải đưa ra lời cảnh báo về nguy cơ sử dụng vũ khí hạt nhân ở mức cao do các bên “hiểu sai tín hiệu của nhau”.

“Tay chơi” mới

Cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân giữa Nga và Mỹ đã làm nảy sinh hàng loạt các hiệp định kiểm soát vũ khí, hạn chế các quốc gia lao vào cuộc đua không hồi kết này. Thay vào đó, để né tránh những hạn chế do các hiệp định kiểm soát vũ khí, nhiều quốc gia đi vào nghiên cứu phát triển và triển khai vũ khí thông thường công nghệ mới hay vũ khí hạt nhân đương lượng nổ thấp gồm tên lửa siêu thanh điều khiến có độ chính xác cao và máy bay siêu thanh.

Tình trạng đó đã dẫn tới sự xuất hiện những “tay chơi” mới trong cuộc đua chết người về vũ khí công nghệ cao.

Cuối tháng 11 vừa qua, báo chí thế giới lần đầu tiên đưa tin về việc hồi tháng 7/2021, Trung Quốc đã tiến hành thử nghiệm thành công một “hoạt động tinh vi, trong đó một đầu đạn được bắn ra từ một tên lửa đang bay”. Thử nghiệm thành công này cho thấy năng lực chế tạo tên lửa siêu thanh của Trung Quốc đã được nâng cao hơn nhiều so với những gì thế giới được biết từ trước đến nay.

Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, tướng Mark Milley, đã mô tả cuộc thử nghiệm vũ khí siêu thanh của Trung Quốc giống như “khoảnh khắc Sputnik”, thời điểm Liên Xô phóng thành công vệ tinh lên quỹ đạo trái đất năm 1957, vốn đã gây cho các nhà hoạch định chính sách của Mỹ ở thời điểm đó sự hoảng loạn vì lo sợ Liên Xô đã vượt lên trước trong cuộc chạy đua vũ khí trong không gian.

Trong các cuộc đàm phán về ổn định chiến lược Nga-Mỹ xoay quanh việc hai cường quốc cắt giảm kho vũ khí hạt nhân, hiện chiếm tới 90% số đầu đạn hạt nhân của thế giới, phía Mỹ đã yêu cầu có sự tham gia của Trung Quốc tại các cuộc đàm phán trong tương lai. Theo đại diện của phía Nga, xác suất để việc này xảy ra là “bằng 0”!

Vả lại, như phía Nga đã chỉ rõ, nếu kéo Trung Quốc vào các cuộc đàm phán kiểm soát vũ khí hạt nhân thì các quốc gia hạt nhân đồng minh của Mỹ như Pháp, Anh sẽ không thể đứng ngoài. Chỉ khi ấy, trật tự hạt nhân đa cực mới có thể phát huy tác dụng kiềm chế các hành vi có thể dẫn tới hiểu nhầm chết người.

Thế giới đang tiếp tục chứng kiến cuộc chạy đua hạt nhân trên mọi khu vực với tầm mức nguy hiểm ngày càng tăng. Một báo cáo của Chiến dịch quốc tế xóa bỏ vũ khí hạt nhân (ICAN) cho biết trong khi đại dịch hoành hành khắp thế giới trong năm 2020, các nước sở hữu vũ khí hạt nhân đã chi tới 72 tỷ USD cho các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt, cao hơn 1,4 tỷ USD so với mức chi năm 2019.

Cùng với các điểm nóng trên thế giới như cuộc khủng hoảng Ukraine, tình trạng bất ổn ở Syria, thỏa thuận hạt nhân Iran bị phá vỡ, các cuộc tấn công trên không gian mạng... đều tiềm ẩn đe dọa phá vỡ sự cân bằng mong manh dựa trên nỗi sợ hãi đã hình thành trong suốt 40 năm Chiến tranh lạnh và cả 30 năm sau đó nữa.