Những mảnh hồn ký ức

Nắng tắt, chiều tàn. Căn ngồi lặng im bên mép vực, phía dưới kia màu hoa mái tím rợt. Căn nhà lợp cỏ gianh giữa lưng chừng núi, ngửa mặt ra bốn bề bát ngát, thế mà thấy lòng vẫn như bị bưng bít ngột ngạt không thể cứu vãn. Anh thầm nghĩ, thôi thế là cuộc đời mình coi như hỏng hẳn chẳng còn trông cậy gì nữa. Đêm giông nằm nghe gió át tiếng côn trùng kêu rỉ rả, cả tiếng trườn mình của rắn xanh nơi kẽ lá, vạt đất bên mép vực xối lở ầm ầm, liếm gần thêm chân nhà.

Những mảnh hồn ký ức

Căn lên bản Lát được gần ba năm, từ dạo theo người ta đi công trình xây dựng con đường mới. Vốn không phải là loại đàn ông chịu lam chịu làm để phải xa quê đi phu hồ, dáng Căn èo uột với đôi bàn tay thon nhìn là biết hết đời cũng chẳng nên sức vóc gì. Hồi còn sống mẹ anh thường nói sinh năm Tân Dậu, đến già vẫn chỉ là con gà con luẩn quẩn bên chân mẹ chứ đi đâu xa dăm bữa nửa tháng cũng phải mò về. Bây giờ có lẽ chẳng ai còn nhận ra thằng Căn nữa. Được tắm bằng nắng gió vùng cao, da thịt anh ram rám mùi chát đắng, thô cứng, đôi tay chai sạn lằng nhằng những vết sẹo nâu mới. Căn không định về, chẳng còn ai trông chờ anh nữa. Không ai nhớ mong gì cái thằng tội đồ giết mẹ. Mắt Căn đỏ ngầu, chợt hực lên một tiếng, màu nắng nhòe dần rồi tan theo những vân nước. Nghĩ đến trăm lần anh vẫn không thể đủ tỉnh táo để nghĩ mình có phải là người giết mẹ hay không. Nhưng người ta bảo đấy là thật. Đứa cháu gái đã chính mắt nhìn thấy, nó bảo chú uống rượu say rồi loạng choạng xô bà ngã vào tường. Đồ mõm rượu... đồ giết mẹ... Những âm thanh ngân dài đay nghiến, rượt đi rượt lại qua lá thông. Đầu anh choáng váng, phủ phục xuống vạt cỏ chỉ nồng.

Căn nhận ra rượu hại đời anh quá lắm. Đáng lẽ anh đã có vợ con, một mái nhà của mình, đã nên người rồi. Thế mà giờ vẫn nguyên hai bàn tay trắng. Chẳng buồn nghĩ về Nụ nữa, đâu phải người ta bạc... Căn với Nụ phải lòng nhau, ông bà bu bên ấy cũng vừa lòng, âu thì Nụ cũng chẳng phải là con ruột rà gì của họ. Hồi trước, đi xem bói người ta bảo số thằng Sung đoản mệnh chết sớm muốn thành người thì buộc phải nhận một đứa nuôi để nó gánh bớt đi cho. Thế là Nụ về làm con nhà họ, làm em gái thằng Sung. Sung biết Nụ không phải con ruột nên mê ra mặt. Nó bảo với Căn, ngày nào thằng Sung này còn sống thì đừng có hòng mà cưới được Nụ về. Tưởng dọa là dọa thế thôi ai ngờ... Căn vốn từ bé đã là người sẵn niềm tin, cái gì anh cũng chắc chắn đến mười mươi. Lại được cả ông bà bu bên đấy đồng ý thì còn ngại ngần gì. Định qua Tết, Căn đưa mẹ sang thưa chuyện, mấy ngày thấy mặt Sung không sưng sỉa nữa mà gặp đâu cũng cười bả lả. Đêm tất niên còn mời anh sang uống rượu, rượu vào thế là say. Sáng ra anh thấy mình nằm vắt ngang đường, sương rơi ướt rượt. Cái loại mõm rượu, đã ăn uống no say còn thổ ra nhà người ta, năm mới năm me đen như chó mực. Cả nhà Nụ đâm thù Căn, nửa đêm Nụ hẹn Căn ra đê, ôm mặt khóc rưng rức, bảo chuyện không thành... ra Tết Nụ làm đám cưới. Nhưng không phải với Căn mà với thằng thọt con ông trưởng thôn Lừng.

Trở về bên chiếc thuyền nan dập dềnh ngoài xóm bãi, Căn ít khi về nhà mà càng uống rượu hăng. Thấy đời chán quá. Có đêm nhảy xuống nước vùng vằng đến kiệt sức mới trườn lên bãi phơi sương.

Mẹ đi rồi, Căn cũng đi, nhà bỏ không, con thuyền nát nước. Ngày đi, Căn vục đầu bên mộ mẹ khóc rức. Rồi ngửa mặt lên trời thề từ nay không bao giờ đụng đến rượu nữa.

Thế mà điều gì đã xui khiến anh, là trăng ngăn ngắt hay tiếng thông rên. Ánh sáng chao thành những đường thẳng xiên xẹo trước mắt, rơi cả vào chén rượu trong tay người đàn ông. Căn thôi nhìn về phía trước, thu lại nơi chiếc bóng trên tường. Hai mái đầu rũ xuống, nặng nề như khoác trên vai cái ách khổng lồ. Ra, lời thề ư? Căn chợt co rúm lại. Người nóng lên và ý nghĩ trong đầu anh không chạy ngược lại được nữa. Một luồng run rẩy dọc cánh tay, những sợi tơ bắt đầu dựng, đen đúa chông nhọn. Anh rùng mình, kinh tởm.

Nếu như lão Mùn không xuất hiện vào đúng cái lúc ấy, khi thông in hình loáng choáng thì đã chẳng thế. Người khách thường nhật ấy là một lão già ít lời sống bằng nghề cắt chổi thanh hao, ngày đôi bận chon von trên núi đến chập chiều mới về, tiện đường ghé vào làm chén nước. Lúc đầu Căn thấy phiền lắm sau lâu dần cũng quen. Cách xa một quãng vẫn ngửi thấy mùi thanh hao rực ra từ tấm áo nâu sờn đã bị cây rừng làm cho tơi tớp. Non tuần nay không tới nhà, Căn trở về với sự u tịch của núi rừng. Thế mà lão lại đến, lần này trên vai không có bó thanh hao một mình vẹo vọ leo lên con dốc, tay cầm nậm rượu trắng nút lá chuối khô.

Người đàn ông gượng cười nhìn Căn. Lúc này anh đang phầm phập cây dao quắm lạnh coong vào thân cây vót nhọn. Không trả lời, mắt Căn ngầu đỏ. Dăm ba con chuột bò loạn xạ trong túi vải. Mặc người đàn ông ngồi thừ bên cửa, Căn chất bếp nướng chuột. Mùi lá thông khô cuốn vào thân dó cháy xèo. Ánh nắng như chỉ vừa kịp xéo qua lưng đồi, mới đó trăng đã nhu nhú nơi đỉnh. Hai gã đàn ông khoanh tròn trên chiếc chõng tre, mùi mỡ chuột rừng thơm lựng.

- Một chén?

Căn lắc đầu. Lưỡi tứa ra một thứ nước nhạt thếch. Lão Mùn ngửa cổ tợp một chén gọn lỏn, hơi men cháy trong họng làm gã chép miệng khà một tiếng dài. Hình như hôm nay lão lạ lắm, thấy ít cười và ít nói, hết đăm đăm nhìn xuống chén rượu lại ngửa cổ nghếch trăng suông.

- Cuối cùng thì tao còn sót lại được hai thứ để mà nghĩ đến. Chỉ có rượu với...

Nhìn mặt Căn lạnh như đá vôi trong rừng Vin, trơ cứng. Chỉ biết nghe và khẽ gật đầu, là cái thứ duy nhất vào lúc này gã đàn ông trước mặt có thể tìm đến. Sao lại biến Căn thành một kẻ làm phước. Ai sẽ là người làm phước cho Căn. Bóng đêm sâu hun hút dưới vực kia, nước mắt và...

- Chén này... mày phải uống cạn. Chúng tao chỉ có chén rượu mới thấu được cái tình của nhau, hiểu nhau rồi... mới dám nói.

- Lão cứ uống. Tôi đã trót có lời thề, cái tình của lão thì tôi xin nhận.

Lão ngần ngừ nâng chén rượu, nỗi thất vọng tràn ra trên khóe mắt làm những nếp nhăn xô lại. Uống xong, rót một chén đầy lặng lẽ đặt trước mặt Căn. Quay mặt ra phía cánh rừng tối thăm thẳm, âm thầm tận hưởng niềm hoan lạc đau đớn. Mùi men nồng phả ra từ cánh mũi. Căn nhận thấy khuôn mặt lão nhìn nghiêng khó coi quá, làn da vàng bủng bị nắng rám cũng không giấu được vẻ xanh xao nơi lưỡng quyền hốc nhọn. Xương quai hàm bạnh ra trâng tráo. Gương mặt ấy mang bóng dáng của cái thời tiền sử xa xăm, loáng thoáng sẽ phạc phếch rồi tan dưới ánh trăng như một cô hồn.

Rượu... rượu... rượu... Thành một hơi thở chát đắng, hoang hoải. Rượu đầy rồi vơi, mái đầu bạc ngửa lên cúi xuống. Căn nghe tiếng tim mình rưn rứt từng nhịp... nâng chén rượu, nỗi đau được dìm xuống bởi một lực nén. Tan hơi men, phình lên trương cứng phập phồng. Cứ thế trượt dài trong một nỗi mê man khó cưỡng. Căn nâng chén, trân trối nhìn gã đàn ông, oán trách, hụt hẫng rồi lặng ngắt.

- Mặt trời lên tao sẽ đi.

Căn cũng nghĩ đến chuyến đi dài nhất của mình. Hồi còn ở quê, lúc nào anh cũng bị ám ảnh bởi một chuyến đi xa xôi. Rời khỏi căn nhà gỗ của mẹ, cả chiếc thuyền nan bốn bề là nước. Xa đến mức mọi người không thể mường tượng ra. Đến bản Lát này có phải đã là xa nhất chăng? Không. Đời chẳng cho ta dừng lại ở một quãng nào, cứ chảy thì phải theo. Thực ra tất cả gom góp lại chỉ là một chuyến đi dài. Lão Mùn đi dù có lâu đến thế nào rồi cũng sẽ trở lại. Làm quái gì để đến mức phải tính toan sầu não như lần cuối. Căn nhìn lão, vờ như chăm chú vào câu chuyện lão đang kể nhưng thực ra trong lòng anh dửng dưng lắm. Chắc lâu rồi không có người bầu bạn lão thấy buồn, kiếm chuyện mà nói. Ở cái bản Lát này nhà cách nhau vực núi, tiếng hú bật lên lại rơi xuống lũng, muốn gặp nhau chuyện trò cũng khó. Biết thế nên Căn chẳng so đo với lão cái niềm vui nho nhỏ ấy.

(Còn nữa)