Những "cách đi" còn ngẫu hứng

Nếu chỉ xem những tác phẩm nghệ thuật trên internet mà không đến phòng trưng bày để ngắm nhìn trực tiếp bạn sẽ không bao giờ cảm nhận được hết tác phẩm của họ. Và khi mua một tác phẩm nghệ thuật cũng vậy, chúng ta cần được ngắm nhìn chúng trực tiếp, thậm chí chỉ có thể quyết định mua sau khi đã xem đi xem lại nhiều lần.
Một không gian trưng bày nghệ thuật sắp đặt, tại Mori Art Museum, Nhật Bản. Ảnh: Đức Đạt
Một không gian trưng bày nghệ thuật sắp đặt, tại Mori Art Museum, Nhật Bản. Ảnh: Đức Đạt

Nhìn chung, các phòng trưng bày nghệ thuật (gallery) chuyên nghiệp có nhiệm vụ chính là: lựa chọn nghệ sĩ, theo sứ mệnh của riêng họ, theo các tiêu chí như địa lý, kinh tế, các loại hình nghệ thuật hoặc thậm chí là thực hiện nghiên cứu nghệ thuật. Tiếp đến là hỗ trợ, nâng cao và định vị chỗ đứng cho các nghệ sĩ (độc quyền) của họ, thông qua các cuộc triển lãm, sự kiện và hội chợ nghệ thuật, để quảng bá chúng đến các nhà sưu tập, các tổ chức và giám tuyển. Họ cũng nhất thiết phải bảo đảm chất lượng và xuất xứ của các tác phẩm nghệ thuật được trưng bày trong không gian của họ.

Các gallery này thường chủ động thực hiện toàn bộ quy trình triển lãm cho nghệ sĩ từ đầu đến cuối, từ chọn tranh, xin cấp phép, truyền thông, thương mại… Vì vậy, thời gian trưng bày thường ít nhất từ ba tuần đến ba tháng, thậm chí sáu tháng, đáp ứng nhu cầu đa dạng của công chúng, trong đó có giới sưu tập vốn thường cần thời gian dài để sắp xếp lịch trình. Ở Việt Nam hiện nay, có lẽ đếm được trên đầu ngón tay những phòng trưng bày thực hiện được quy trình như vậy cho dù mô hình gallery đã ra đời và có thời kỳ phát triển "nóng" từ trước những năm 2000 ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Một số trung tâm văn hóa nước ngoài có phòng đa chức năng, trưng bày triển lãm cũng tuân thủ chất lượng và thời gian trưng bày như vậy.

Riêng ở Việt Nam, loại hình phòng trưng bày tự phát trong bảo tàng, trường nghệ thuật, một số trung tâm văn hóa lại có cách đi khác: họ thường chỉ là nơi cho thuê địa điểm, nghệ sĩ tự lo mọi chi phí và các thủ tục liên quan. Chính vì thế, các triển lãm ở dạng này, vốn chiếm tuyệt đại đa số ở Việt Nam hiện nay, thường có thời gian trưng bày ngắn, trong khoảng 5-10 ngày. Nguyên do chính là kinh phí eo hẹp, tác giả nghệ sĩ tự bỏ tiền túi và thường không thu vé vào cửa. Gần đây, xuất hiện một số địa chỉ gallery tư nhân quảng bá việc bán vé và hạn chế lượt khách thăm để giữ trật tự và dành không gian, điều kiện tối đa cho thưởng lãm nghệ thuật thì cũng lại vấp phải không ít ý kiến trái chiều.

Cá nhân tác giả viết bài này, ngoài việc tìm hiểu, nghiên cứu và cũng tham gia tổ chức một số cuộc triển lãm nhóm, thấy rằng, thời gian cho trưng bày nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay khá bất cập. Địa điểm trưng bày sẽ cho nghệ sĩ khoảng thời gian từ một đến ba ngày, thí dụ như với Phòng trưng bày chuyên đề (thực chất là cho cá nhân/nhóm nghệ sĩ thuê) trong Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Art Space- Đại học Mỹ thuật Việt Nam, Nhà triển lãm số 29, phố Hàng Bài (thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)… để chuẩn bị mọi khâu treo tranh, bày tượng và sau đó là tháo dỡ triển lãm mà không tính tiền vào hợp đồng thuê. Khâu công việc quan trọng nhất này thì thường vẫn do nghệ sĩ tự làm hoặc nhờ bạn bè, vì ở Việt Nam chưa có đội ngũ chuyên nghiệp cho việc này. Đến mùa triển lãm (bắt đầu từ mùa thu năm này đến đầu mùa hè năm sau) có rất nhiều triển lãm xếp hàng chờ đến lượt, mà thường nghệ sĩ phải đặt phòng trước khoảng sáu tháng đến hai năm. Vì vậy, có những triển lãm chỉ có một ngày để lắp đặt tác phẩm: từ vận chuyển đến treo tranh, tượng, chỉnh ánh sáng... rất vất vả, đôi khi khai mạc xong mới thấy là không thể hoàn hảo và không chuyên nghiệp vì thời gian quá gấp gáp.

Thời gian trưng bày thông thường cho hầu hết các triển lãm ở Việt Nam hiện nay đều diễn ra trong giờ hành chính, từ tám giờ rưỡi sáng đến năm giờ chiều, thỉnh thoảng có phòng trưng bày còn nghỉ trưa, tắt điện và điều hòa. Đây lại là khung thời gian đi làm của phần lớn công chúng, thật khó để đến thưởng ngoạn tác phẩm yêu thích của mình.

Phòng trưng bày nghệ thuật là một nơi để xây dựng các kết nối cộng đồng có mối quan tâm chung về nghệ thuật. Ở đó nghệ sĩ và tác phẩm là trung tâm, quanh họ là giới sưu tập nghệ thuật, khách hàng, giám tuyển, nhà giáo dục, nhà tổ chức và cả nhà xuất bản (nếu in sách hay vựng tập tặng hoặc bán). Cộng đồng nghệ thuật rất quan trọng với từng nghệ sĩ. Vậy nên chăng, giới chức quản lý văn hóa nghệ thuật cần quan tâm chú ý hơn nữa đến việc lập một quỹ hỗ trợ mỹ thuật ở Việt Nam, đầu tư cho các nghệ sĩ có tác phẩm tốt có cơ hội trưng bày triển lãm lâu dài hơn, chuyên nghiệp hơn, góp phần thúc đẩy nhận thức nghệ thuật đúng đắn hơn cho công chúng, tạo đà hình thành thị trường mỹ thuật chuyên nghiệp trong tương lai gần.