Sau những “trái ngọt” ấy là biết bao mồ hôi và nước mắt của mười chín con người đã và đang đổ trên đại ngàn Tây Nguyên.
Đòi quyền làm mẹ cho những “nàng voi”
Năm 2011, Trung tâm Bảo tồn voi Đác Lắc ra đời trước thực tế cấp bách: Voi rừng vì bị thu hẹp môi trường sống nên ngày càng hung dữ, chúng liên tục tấn công con người và đàn voi nhà. Số lượng voi nhà thì suy giảm đến mức: từ 502 con (năm 1980) xuống chỉ còn hơn 40 con (thời điểm Trung tâm thành lập). Suốt mấy chục năm trời, vì môi sinh không thuận theo tự nhiên, vì phục vụ con người mà đàn voi nhà dường như mất dần đi bản năng sinh sản, rất nhiều voi cái già yếu, chết đi khi vẫn là “những “nàng” voi băng trinh”.
Với người MNông ở Đác Lắc, voi là “lao động” chính, là tài sản lớn của gia đình. Không những thế, voi còn giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh thần của bà con. Mạch ngầm âm ỉ bao đời, sự quyền quý, hơn thua trong buôn làng nằm ở việc sở hữu voi. “Nên rất nhiều năm, những gia đình có voi đực không cho voi của nhà mình giao phối với voi cái nhà khác. Vì khi voi cái sinh con, nghĩa là gia đình kia đã “hơn” hẳn gia đình này. Trung tâm đã phải đến từng buôn, nói chuyện “mưa dầm thấm lâu” với từng chủ voi. Dần dần bà con cũng hiểu và tạo điều kiện để những người làm công tác bảo tồn voi “lên kế hoạch” cho những con voi đực, voi cái “tìm hiểu” nhau” - anh Phạm Văn Thịnh, Trưởng phòng voi nhà chia sẻ.
“Nàng” voi H’Ban Nang lần đầu mang thai ở tuổi 37 cũng là cả một câu chuyện dài. Trung tâm Bảo tồn voi Đác Lắc lập đề tài nghiên cứu khả năng sinh sản trên voi thuần dưỡng và được các cấp thẩm quyền phê duyệt thực hiện từ tháng 7-2016 đến tháng 12-2018. H’Ban Nang là “nàng” voi của dòng họ Ama Mứ ở buôn Mliêng, huyện Lắc, tỉnh Đác Lắc. Y Mâm là “chàng” voi thuộc sở hữu của ông Đàng Năng Long (cùng ở huyện Lắc) - người đàn ông MNông yêu voi như yêu những đứa con. Khi phát hiện Y Mâm và H’Ban Nang có dấu hiệu tình cảm, ông Long đã đến gặp gia tộc Ama Mứ xin cho chúng được “cưới nhau”. Bấy giờ nhà Ama Mứ rất đắn đo, e dè, phải đến khi Đàng Năng Long cam kết nếu H’Ban Nang bị Y Mâm làm tổn thương, ông sẽ lấy voi cái nhà mình để đền thì gia tộc Ama Mứ mới đồng ý.
Nhắc lại chuyện voi H’Ban Nang mang thai, ông Huỳnh Trung Luân – GĐ Trung tâm Bảo tồn voi Đác Lắc xúc động: “Mọi người phải tạo không gian lớn, tránh sự có mặt của du khách cho Y Mâm và H’Ban Nang tự do “tìm hiểu” nhau. Sau mấy tháng được tạo điều kiện tối đa, hai gia đình thấy vú H’Ban Nang bắt đầu căng mọng là lập tức báo cho Trung tâm. Trung tâm phải nhờ đến sự giúp đỡ của TS Willem Schaftenaar - nguyên trưởng phòng Thú y vườn thú Rotterdam (Hà Lan). TS Willem cùng nhóm chuyên gia đã mang máy siêu âm về huyện Lắc. Tất cả cùng nín thở hồi hộp chờ kết quả siêu âm. Khi TS Willem thông báo “nàng” voi H’Ban Nang sắp có em bé thì tất cả cùng vỡ òa. Thế là sau 30 năm, Đác Lắc đã có được một “nàng” voi nhà mang thai.
Gian nan lập kỳ tích tầm quốc tế
Trạm bảo tồn kiêm bệnh viện voi huyện Buôn Đôn của Trung tâm nằm dưới tán rừng khộp ven hồ thủy điện Buôn Kuốp. Những ngày cuối tháng 11, tôi đã tận mắt chứng kiến sự có mặt của hai “chú voi con ở bản Đôn”. Gold là chú voi con mới 2 tuổi, hiếu động và đáng yêu như bất kỳ đứa trẻ nào, chú liên tiếp đập vòi vào tay tôi tỏ ý muốn làm quen. Câu chuyện về voi Gold cũng khiến bất cứ ai được nghe đều xúc động. Cao Xuân Ninh là nhân viên Phòng voi hoang dã, nhà ở xã Ea Lê, huyện Ea Súp - nơi voi rừng thường về phá rẫy tìm thức ăn. Đúng ngày Ninh có mặt ở nhà thì nhận được thông tin từ Trung tâm: Lâm trường Chư M’Lanh báo tin có một voi con bị mắc kẹt dưới giếng. Ninh xuất phát từ nhà, hai cán bộ nữa xuất phát từ Trạm bảo tồn Buôn Đôn. Khi mọi người đến nơi thì thấy một chú voi non nớt, trên mình còn phủ đầy lông lá đang lóp ngóp bùn đất dưới lòng giếng nhỏ. Cả nhóm thả cành cây xuống cho voi giẫm và nổi dần lên. Ninh lội xuống buộc dây quanh bụng voi để hai cán bộ của Trung tâm cùng bốn người dân hò nhau kéo.
Về trạm, các cán bộ của Trung tâm và các nài voi giàu kinh nghiệm áng chừng voi con khoảng 3 tháng tuổi, nặng độ 70 kg. Voi con quá non nớt, Trưởng phòng voi nhà Phạm Văn Thịnh là Thạc sĩ thú y, chuyên viên của Trung tâm từng sang Xri Lan-ca, Thái-lan... tập huấn kỹ năng cứu hộ voi. Anh Thịnh phải “cầu cứu” các chuyên gia bảo tồn voi ở Mỹ, Anh và Thái-lan. Qua zalo, viber, messenger, mọi người được hướng dẫn cách tắm rửa, cách pha sữa của trẻ nhỏ cho voi con bú bình.
Ngay sau đó người của lâm trường lại báo tin có đàn voi rừng quay về giếng cạn. Xác định là chúng về tìm voi con nên ông Luân nhanh chóng đưa ra quyết định phải đưa voi con về trả cho mẹ nó ngay trong đêm.
Voi con được nhốt trong một chiếc cũi gá tạm đặt gần giếng nước, để nếu tìm thấy thì voi mẹ có thể phá cũi dễ dàng. Sáng sớm hôm sau, các cán bộ của Trung tâm trở lại kiểm tra thì không thấy voi con đâu. Còn chưa dám yên tâm với suy nghĩ voi mẹ đã đến đưa voi con đi thì nửa tiếng sau bà con đến báo tin có con voi nhỏ đang thẩn thơ chơi quanh lán rẫy. Nói về hành trình tìm lại đàn cho voi con, ông Luân rưng rưng: “Voi Gold rất tội. Sau 2 lần tìm đàn cho nó không thành công, Trung tâm phải mời chuyên gia nước ngoài sang giúp đỡ, nhưng lần thứ 3 đàn voi rừng cũng đến rồi bỏ đi mà không mang theo Gold. Sau đó cùng ngồi lại phân tích, nghiên cứu thì: Voi mẹ về tìm, nhưng vì voi con đã uống sữa bột khiến tuyến mồ hôi thay đổi, con mẹ không thấy mùi của con mình nữa nên không nhận con... Bất đắc dĩ, Gold trở thành voi nhà. Suốt mấy tháng đầu được cứu hộ ở trạm, đêm nào anh em cũng phải thay nhau nằm dưới nền đất để ôm Gold. Gold quá non nớt nên ngủ mà không có người ôm là nó khóc và kêu rất thảm thiết”.
Bây giờ Gold đã quen với cuộc sống ở trạm, sự chăm sóc của bàn tay con người. Gold đã rụng hết lông, đã mập mạp, khỏe mạnh và nặng tới 5 tạ. “Gold là kỳ tích tầm quốc tế, vì trên thế giới chưa hề có trường hợp nào cứu hộ khi voi mới được vài tháng tuổi” - ông Luân khe khẽ tự hào.
Khó khăn giăng đầy phía trước
Sau những thành công và nỗ lực không ngừng nghỉ ấy vẫn còn những giọt nước mắt buồn: Dù các chuyên gia trong nước và quốc tế đã theo dõi sát sao suốt hai năm thai kỳ nhưng voi H’Ban Nang đã không sinh nở thành công, voi con chết ngạt trước khi rời khỏi mẹ. Cả H’Ban Nang, các chuyên gia nước ngoài và cán bộ Trung tâm đều khóc. Voi Gold có bạn là voi June 7 tuổi - cũng là một ca cứu hộ của Trung tâm. Hai năm trước, June là chú voi rừng bị nhiễm trùng vì dính bẫy, chuyên gia nước ngoài phải mang máy chụp X-quang mới biết trong chân June có một cọng thép dài đến 30 cm. Vết thương còn chưa lành thì June lại bị gãy chân trong khi nô đùa cùng một con voi nhà. Khi tôi có mặt, June vẫn tập tễnh, ai nấy đều chạnh lòng khi thấy nó ủ rũ, lủi thủi một góc nhìn theo từng bước chạy nhảy của Gold. June bị đa chấn thương, mà chấn thương nào cũng nặng. Cả Trung tâm vẫn đang mất ăn mất ngủ vì chưa biết xử lý thế nào với tình trạng của June.
Trung tâm Bảo tồn voi Đác Lắc thành lập và đi vào hoạt động với hai bàn tay trắng. Đến bây giờ, sau 6 năm, Trung tâm vẫn phải thuê trụ sở. Trạm cứu hộ kiêm bệnh viện voi huyện Buôn Đôn chỉ là căn nhà cấp 4 thấp lè tè trong rừng Yok Đôn. Cả Trung tâm vỏn vẹn 19 người với khối lượng công việc rất lớn: Từ tuyên truyền việc cho voi nhà sinh sản, đến thuyết phục để các chủ voi giảm thời gian lao động cho voi; từ việc nghiên cứu, ghép đôi cho các cặp voi nhà còn có thể sinh sản được, đến việc kiểm tra sức khỏe, nắm bắt tình hình của voi ở khắp năm huyện: Buôn Đôn, Lắc, Ea Súp, Ea H’Leo, Cư M’Gar. Neo người là thế, các cán bộ bảo tồn voi lại đều “tay ngang”, họ là những kỹ sư lâm nghiệp, kỹ sư sinh học, bác sĩ thú y; mọi kiến thức về voi đều phải tự mày mò, tự đọc, tự học từ tài liệu nước ngoài và sự hỗ trợ tập huấn từ các tổ chức quốc tế.
Dự án cho Trung tâm, cho việc bảo tồn voi đã được phê duyệt, “biết là khó khăn chung và thủ tục phải theo trình tự, nhưng chậm quá. Trong khi rất nhiều việc hằng ngày, hằng giờ cần phải làm cho đàn voi nhà” - ông Luân trăn trở. Trưởng phòng voi nhà Phạm Văn Thịnh hướng ánh nhìn ra mênh mông lòng hồ thủy điện Buôn Kuốp: “Thiếu thốn về cơ sở vật chất thì anh em chịu được; thiếu hụt kiến thức anh em cũng tìm được cách này, cách khác để khắc phục. Nhưng trung tâm đang tiến hành ghép đôi cho bảy cặp voi, trong khi điều kiện sinh cảnh như dự án đã phê duyệt vẫn chưa được triển khai. Mỗi một năm qua đi là cơ hội sinh sản của voi suy giảm đi rất nhiều; bởi độ tuổi sinh sản của voi là từ 13 đến 28 tuổi, mà con voi cái trẻ nhất đã 30 tuổi, các con khác còn có thể sinh sản cũng đều gần 40 tuổi cả rồi”.