Nhà dân tộc học Lý Viết Trường

Nghiên cứu tộc người cung cấp tri thức nền tảng cho sáng tạo

Tiến sĩ Lý Viết Trường, nhà dân tộc học người Nùng Phàn Slình, là một trong chín nhà khoa học trẻ (không quá 35 tuổi) được trao giải Khuê Văn Các lần thứ nhất, năm 2024. Đây là giải thưởng của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh dành cho các nhà khoa học trẻ người Việt Nam, có thành tích xuất sắc trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn ở trong và ngoài nước.

 Nghiên cứu tộc người cung cấp tri thức nền tảng cho sáng tạo

Chúng tôi có dịp trò chuyện cùng anh về sự đóng góp của ngành dân tộc học vào sự phát triển một nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng.

Để không bị lạc trong chính sự quen thuộc của mình

- Anh bước vào con đường nghiên cứu như thế nào? Hẳn là phải có nhà dân tộc học Việt Nam đã trở thành nguồn cảm hứng cho anh?

- Năm 2012, tôi vào học tại Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, và được hướng dẫn bởi nhiều nhà khoa học đầu ngành, trong đó có Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Nhà giáo Nhân dân Hoàng Văn Khoán. Đến bây giờ, đã nhiều năm trôi qua, tôi vẫn luôn nhớ một kỷ niệm với thầy vào đúng ngày 25 tháng Chạp năm ấy. Trước khi về quê ăn Tết, tôi háo hức, tự tin mang bản thảo công trình nghiên cứu khoa học sinh viên lên nộp cho thầy. Đọc xong, thầy trở nên nghiêm nghị, nhìn tôi và góp ý chi tiết. Thầy càng nói, sự tự tin trong tôi càng vơi dần, và tôi thất vọng đến mức nước mắt chỉ chực trào ra.

Tôi nhớ cách thầy lấy ra chai rượu táo mèo, rót vào hai ly, thong thả nhấp từng ngụm. Tôi nhớ lời thầy nói: Muốn có một bình rượu ngon thì ngay từ đầu, phải chọn những quả táo thật kỹ, không được hỏng. Khi ngâm, cũng phải làm cẩn thận, một lớp táo, một lớp đường rồi mới đổ rượu vào. Nhưng như thế vẫn chưa đủ, rượu muốn ngon thì phải cần thời gian để ủ... Tôi nhớ cách so sánh này của thầy, nguyên văn: “Làm nghiên cứu cũng như ngâm một bình rượu vậy!”. Tiếp đó, thầy hỏi thăm tôi ngày về quê, về việc mua vé xe khách. Rồi, thầy lấy một hộp bánh đưa cho tôi và bảo: “Mang về quê, giúp thầy thắp hương cho bố mẹ”. Đến lúc ấy, nước mắt tôi trào ra…

Sau đó, theo lời khuyên của thầy Hoàng Văn Khoán và các thầy cô, tôi tập trung tìm hiểu văn hóa dân tộc mình và ấn tượng với cuốn sách Dân tộc Nùng ở Việt Nam của Giáo sư Hoàng Nam, một người đồng hương. Từ sau lần đầu được gặp thầy ở ngôi nhà tỏa ra hương hồi quen thuộc, hầu như tuần nào, tôi cũng đến thăm thầy. Căn phòng làm việc của thầy trở thành một lớp học đặc biệt, nơi tôi được nghe giảng về dân tộc học, về văn hóa Nùng, về phương pháp điền dã, về cách đặt câu hỏi và tư duy khoa học. Có thể nói, Giáo sư Hoàng Nam là người có ảnh hưởng rất lớn đến con đường nghiên cứu của tôi.

Từ mỗi người thầy, tôi đều học được những kinh nghiệm khác nhau, cả trong học thuật lẫn trong cuộc sống. Với tôi, đó là những món nợ ân tình mà suốt đời không trả hết.

- Tôi nhớ đúc kết của một nhà nghiên cứu: “Dân tộc học không chỉ là một nghề mà là một cách sống”. Với anh, “lẽ sống” của một nhà dân tộc học, là gì?

- Với tôi, dân tộc học đã trở thành một phần của cuộc sống, mở ra cơ hội để tôi hiểu sâu hơn về chính dân tộc mình, quê hương mình, cũng như về sự đa dạng văn hóa của đất nước. Càng nghiên cứu tôi càng nhận ra rằng, những gì gần gũi nhất lại chính là những điều mình còn chưa hiểu hết. Một nghi lễ, những cách xưng hô, một câu hát sli, một phong tục trong đời sống thường ngày đều chứa đựng những tầng ý nghĩa văn hóa rất sâu sắc.

81.jpg
Điệu múa Sư tử mèo trong lễ hội xuân của người Tày ở Lạng Sơn. Ảnh: SƠN TÙNG

- Là một người dân tộc Nùng Phàn Slình và lại lựa chọn đi theo con đường nghiên cứu dân tộc học về tộc người của mình, anh nghĩ thế nào về thuận lợi và bất lợi từ vị thế này của một nhà dân tộc học?

- Tôi cho rằng trước tiên, đây là một lợi thế rất lớn. Trong dân tộc học, đặc biệt theo truyền thống nghiên cứu châu Âu, một trong những nguyên tắc quan trọng là nhà nghiên cứu phải hiểu ngôn ngữ và văn hóa của cộng đồng mà mình nghiên cứu.

Là người Nùng Phàn Slình, tôi sinh ra và lớn lên trong chính không gian văn hóa ấy. Từ nhỏ tôi đã được nghe tiếng mẹ đẻ, chứng kiến các nghi lễ, phong tục, lễ hội, những câu hát sli, lượn, những tập quán trong gia đình và cộng đồng. Điều đó giúp tôi có được một vốn hiểu biết mà nếu chỉ thông qua khảo sát trong một thời gian ngắn thì rất khó có thể đạt được.

Tuy nhiên, vị trí của người trong cuộc cũng có những hạn chế nhất định, chính vì quá quen thuộc với văn hóa của mình nên đôi khi, nhà nghiên cứu dễ bỏ qua những điều tưởng như rất bình thường, hiển nhiên song lại mang ý nghĩa khoa học quan trọng. Vì vậy, tôi luôn tự nhắc mình phải giữ khoảng cách học thuật cần thiết, thường xuyên đọc các công trình nghiên cứu, cập nhật lý thuyết mới và đối thoại với các học giả trong và ngoài nước, không bị lạc trong chính sự quen thuộc của mình.

Tiến sĩ Lý Viết Trường hiện công tác tại Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội. Anh là tác giả của bốn cuốn sách chuyên khảo, hàng chục bài báo khoa học công bố trong nước và quốc tế, là đồng tác giả của nhiều công trình khảo cứu, giáo trình khác, trong đó phần nhiều tập trung vào văn hóa của người Nùng và người Tày, hai cộng đồng có mối quan hệ gần gũi về lịch sử, ngôn ngữ và văn hóa. Luận án tiến sĩ của anh, bảo vệ năm 2024, tại Đại học Dân tộc Quảng Tây, Trung Quốc, có nhan đề Đời sống của thầy Tào người Nùng Phàn Slình trong bối cảnh hiện nay (nghiên cứu trường hợp thôn Sơn Hồng, xã Gia Cát, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn).

Dân tộc học giúp tôi hiểu sâu sắc hơn về sự đa dạng văn hóa

- “Việt Nam nhìn từ núi” là hướng nghiên cứu Việt Nam học mà một số nhà dân tộc học trẻ đang theo đuổi. Anh mong muốn các công trình nghiên cứu của mình sẽ đóng góp gì cho việc hiểu Việt Nam trong vẻ đẹp của sự đa dạng văn hóa?

- Tôi rất thích cách đặt vấn đề “Việt Nam nhìn từ núi”.

Miền núi và vùng biên giới là không gian sinh tồn của hàng chục dân tộc thiểu số với những lịch sử, ngôn ngữ, tri thức địa phương và truyền thống văn hóa rất đặc sắc. Đây cũng là khu vực có vai trò đặc biệt quan trọng về chủ quyền lãnh thổ, giao lưu văn hóa và phát triển bền vững. Là một người sinh ra ở vùng núi, lại được đào tạo trong lĩnh vực dân tộc học và nhân học văn hóa, tôi mong muốn những công trình của mình sẽ góp thêm một góc nhìn từ chính không gian ấy. Tôi luôn cho rằng sự đa dạng văn hóa không phải là những mảnh ghép tách rời, mà chính là nền tảng tạo nên bản sắc chung của dân tộc Việt Nam - một quốc gia thống nhất trong đa dạng, nơi mỗi nền văn hóa đều có giá trị và xứng đáng được tôn trọng, gìn giữ và phát huy.

Trong bối cảnh phát triển công nghiệp văn hóa hiện nay, dân tộc học có vai trò rất quan trọng bởi nó cung cấp nền tảng tri thức để các văn nghệ sĩ có thể tái hiện đời sống văn hóa của một tộc người, một vùng đất trong sáng tác của họ một cách chân thực cùng tinh thần tôn trọng cộng đồng.

- Theo anh, khó khăn lớn nhất trong nghiên cứu tộc người và văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay là gì?

- Theo tôi, khó khăn lớn nhất hiện nay vẫn là nguồn lực dành cho nghiên cứu, nhất là kinh phí đối với các nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu dài hạn. Dân tộc học là ngành đòi hỏi phải điền dã nhiều lần, có khi phải sống cùng cộng đồng hàng tháng, thậm chí nhiều năm để quan sát, ghi nhận, đối chiếu những biến đổi diễn ra trong đời sống của con người. Những nghiên cứu như vậy cần nguồn kinh phí ổn định và lâu dài.

Vì thế, tôi mong rằng, trong thời gian tới sẽ có thêm nhiều cơ chế hỗ trợ cho các nghiên cứu cơ bản, đặc biệt, những nghiên cứu về văn hóa, con người và các dân tộc thiểu số. Đầu tư cho khoa học xã hội cũng chính là đầu tư cho việc gìn giữ những giá trị văn hóa và củng cố nền tảng phát triển bền vững của đất nước.

- Trân trọng cảm ơn anh!