Đặt năng lực thực thi vào trung tâm cải cách

Với định hướng chiến lược rõ ràng, Đại hội XIV đã xác lập tầm nhìn trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045. Để các quyết sách của Đại hội XIV có thể đi đến đích và tạo nền tảng bền vững cho phát triển dài hạn, thách thức cốt lõi nằm ở năng lực thực thi và khả năng chuyển hóa thành kết quả thực chất.

Tập đoàn Viettel luôn đi đầu trong đổi mới sáng tạo và là doanh nghiệp chủ lực tham gia xây dựng hạ tầng logistics quốc gia. (Nguồn: Viettel)
Tập đoàn Viettel luôn đi đầu trong đổi mới sáng tạo và là doanh nghiệp chủ lực tham gia xây dựng hạ tầng logistics quốc gia. (Nguồn: Viettel)

Quyết tâm hành động với tư duy chiến lược mới

Đại hội XIV diễn ra trong bối cảnh Việt Nam bước vào ngưỡng thu nhập trung bình và đối mặt với thách thức “bẫy thu nhập trung bình”, một rào cản phát triển mà nhiều nền kinh tế đang phát triển trên thế giới chưa thể vượt qua. Yêu cầu đặt ra là lựa chọn con đường phát triển phù hợp để chuyển hóa hiệu quả năng lực quốc gia, tạo nền tảng thực chất hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.

Trên tinh thần nhìn thẳng vào những giới hạn của mô hình tăng trưởng cũ, Đại hội XIV đã khẳng định khát vọng phát triển của dân tộc trong giai đoạn mới, được kết tinh trong yêu cầu “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”. Đây là sự khẳng định mạnh mẽ ý chí vươn lên của đất nước, thể hiện quyết tâm thoát khỏi mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào lợi thế sẵn có, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên, để chuyển sang phát triển dựa trên nội lực, trí tuệ, khoa học công nghệ và năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Điểm nổi bật của Đại hội XIV là tư duy chiến lược rõ ràng gắn chặt với kế hoạch tổ chức thực hiện cụ thể. Đại hội xác lập mục tiêu phát triển mới và cụ thể hóa tầm nhìn bằng hệ thống định hướng và nhiệm vụ mang tính hành động cao, nhất quán quan điểm “Dân là gốc”, lấy con người làm trung tâm. Đặc biệt, Đại hội nhấn mạnh yêu cầu kiến tạo dư địa phát triển mới thông qua việc sắp xếp lại không gian phát triển trên cơ sở tăng cường liên kết vùng, hình thành các hành lang kinh tế mới và xây dựng các hệ sinh thái sản xuất kinh doanh có tính
kết nối cao.

Trên nền tảng đó, Đại hội XIV đã xác định các trụ cột chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực nội sinh. Đồng thời, Đại hội nhấn mạnh các đột phá then chốt trong hoàn thiện thể chế kiến tạo phát triển, phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực - điều kiện nền tảng để thúc đẩy quá trình chuyển hóa năng lực phát triển quốc gia.

Cách tiếp cận này nhằm vượt qua giới hạn phát triển theo ranh giới hành chính đơn lẻ, khai thác hiệu quả hơn các nguồn lực vùng, nâng cao năng suất tổng thể và tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế. Đồng thời cho thấy tư duy phát triển đã chuyển từ mục tiêu tăng trưởng thuần túy sang chú trọng chất lượng tăng trưởng, năng lực nội sinh và tính bền vững dài hạn, lấy con người và doanh nghiệp làm trung tâm của quá trình phát triển.

Không để “chủ trương đúng bị chậm triển khai”

Có thể khẳng định, các định hướng và mục tiêu mà Đại hội XIV xác lập là đúng hướng, kịp thời và phù hợp bối cảnh phát triển mới của đất nước. Khi khung chủ trương và chính sách đã được hình thành tương đối đầy đủ, yếu tố quyết định đối với thành công của giai đoạn phát triển mới không còn nằm ở việc “làm gì”, mà nằm ở việc “làm như thế nào”.

Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã nỗ lực hoàn thiện khung khổ chính sách trên nhiều lĩnh vực, với tư duy ngày càng rõ ràng, hiện đại và tiệm cận thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, vẫn còn đó một nghịch lý đáng chú ý: Không ít chính sách đúng về mục tiêu và định hướng nhưng kết quả đạt được chưa tương xứng, khoảng cách giữa chủ trương và tác động thực tế vẫn tồn tại. Những hạn chế này bộc lộ rõ trong các lĩnh vực then chốt như phát triển hạ tầng; thu hút FDI, hỗ trợ doanh nghiệp và khoa học công nghệ. Nhiều chính sách triển khai chậm, hiệu quả thấp do vướng mắc thủ tục, phối hợp nguồn lực hạn chế và thiếu kết nối giữa các chủ thể. Liên kết chuỗi giá trị còn yếu, chuyển hóa tri thức chậm, dòng vốn chưa được định hướng hiệu quả vào sản xuất kinh doanh, trong khi chi phí tuân thủ của doanh nghiệp vẫn cao, phản ánh khoảng trống đáng kể trong tổ chức thực thi.

Do vậy, vấn đề cốt lõi của giai đoạn phát triển hiện nay là cần phải nâng cao năng lực tổ chức, điều phối và thực thi trong toàn bộ hệ thống phát triển. Đây chính là điều kiện then chốt để các chính sách đúng có thể tạo ra chuyển biến thực chất và phát huy đầy đủ vai trò dẫn dắt phát triển trong giai đoạn mới.

Về bản chất, năng lực thực thi là một năng lực tổng hợp, bao gồm khả năng điều phối hiệu quả giữa các bộ, ngành và địa phương; khả năng chuyển hóa chính sách từ văn bản thành hành động cụ thể; khả năng để các đối tượng thụ hưởng hiểu, tiếp cận và hấp thụ chính sách; cùng với năng lực giám sát, phản hồi và điều chỉnh kịp thời trong suốt quá trình triển khai.

Trước đây, Việt Nam vẫn có thể duy trì tăng trưởng ngay cả khi năng lực thực thi còn hạn chế, nhờ lợi thế lao động, đất đai và đầu tư mở rộng. Tuy nhiên, khi nền kinh tế đã bước sâu vào nhóm thu nhập trung bình, mô hình này không còn đủ sức duy trì tăng trưởng chất lượng cao.

Giai đoạn phát triển hiện nay đòi hỏi có những chính sách phức tạp hơn, mức độ phối hợp cao hơn và thời gian thực hiện dài hơn, từ nâng cấp doanh nghiệp, tích hợp khoa học công nghệ, nâng cao năng suất cho đến tái cấu trúc không gian phát triển. Và nếu năng lực thực thi không được nâng cấp tương ứng, chính sách dù đúng cũng khó phát huy hiệu quả, khiến nền kinh tế dễ rơi vào tình trạng “quen thuộc”: Chủ trương đúng nhưng triển khai chậm, cải cách nhiều nhưng tác động phân tán, mục tiêu cao nhưng kết quả khiêm tốn!

Kết quả thực tế là thước đo hoạt động thực thi

Khi chủ trương, chính sách đã đúng, yếu tố quyết định nằm ở năng lực thực thi để biến định hướng thành kết quả cụ thể. Năng lực thực thi quốc gia là khả năng của toàn bộ hệ thống chính trị trong việc tổ chức, điều phối và triển khai các chủ trương, chính sách theo cách tạo ra những thay đổi thực chất. Năng lực thực thi không đồng nghĩa với siết chặt kỷ luật hành chính hay chạy theo tiến độ hình thức. Và đây cũng chính là chìa khóa để cải cách đi đến đích và để tăng trưởng tạo ra giá trị bền vững cho nền kinh tế và xã hội.

Trong bối cảnh đó, năng lực thực thi trở thành yếu tố quyết định khả năng chuyển hóa các định hướng chiến lược của Đại hội XIV thành kết quả thực chất. Việc nâng cao năng lực thực thi không thể dựa vào những điều chỉnh cục bộ, mà đòi hỏi tổ chức lại toàn bộ cách thức hệ thống phát triển vận hành, chuyển từ tư duy ban hành chính sách sang tư duy tổ chức thực hiện, lấy hiệu quả và tác động thực tế làm thước đo trung tâm. Thực thi hiệu quả trước hết đòi hỏi phân định rõ vai trò giữa nhà nước, thị trường và xã hội. Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thông qua thể chế và chính sách; thị trường quyết định tính năng động và sáng tạo; xã hội tham gia giám sát và phản hồi. Đặc biệt, nhà nước không làm thay thị trường, mà tập trung hoàn thiện thể chế, bảo đảm môi trường cạnh tranh công bằng, minh bạch và ổn định, đồng thời tăng cường điều phối liên ngành, liên vùng và xử lý các điểm nghẽn vượt quá khả năng tự điều chỉnh của thị trường.

Tổ chức lại thực thi cũng cần chuyển từ cách làm dàn trải sang tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm có tác động lan tỏa cao, gắn với mục tiêu nâng cao năng lực dài hạn của doanh nghiệp và nền kinh tế. Mỗi chính sách phải đi kèm cơ chế triển khai rõ ràng, phân công trách nhiệm cụ thể, thời hạn xác định và công cụ giám sát hiệu quả, cho phép điều chỉnh kịp thời dựa trên phản hồi từ thực tiễn.

Cùng với đó, khoa học và công nghệ cần được đặt vào trung tâm của quá trình thực thi chính sách. Điều này đòi hỏi tăng cường vai trò của các thiết chế trung gian như trung tâm đổi mới sáng tạo, tổ chức chuyển giao công nghệ nhằm kết nối hiệu quả giữa hệ thống nghiên cứu với khu vực sản xuất kinh doanh, qua đó thúc đẩy quá trình chuyển hóa tri thức thành năng suất và giá trị gia tăng thực tế.

Bên cạnh đó, cần tổ chức không gian thực thi chính sách theo hướng vượt ra khỏi ranh giới hành chính đơn lẻ, chuyển sang cách tiếp cận theo vùng và theo kết nối. Khi điều phối liên địa phương được tăng cường và hạ tầng, logistics, công nghiệp được tổ chức trong một cấu trúc phát triển thống nhất, cùng một chính sách có thể tạo ra tác động lan tỏa lớn hơn nhiều lần so cách triển khai phân tán. Đây cũng là điều kiện quan trọng để hình thành các không gian phát triển mới và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công.

Cuối cùng, việc tổ chức thực thi cần đi kèm với đổi mới cách thức đánh giá cải cách và phát triển theo hướng thực chất hơn. Đánh giá không chỉ dừng ở các chỉ tiêu ngắn hạn như tốc độ tăng trưởng hay tỷ lệ giải ngân, mà phải phản ánh được sự cải thiện năng lực thực thi của hệ thống theo thời gian, mức độ tích lũy năng lực của doanh nghiệp, cũng như khả năng khoa học và công nghệ được chuyển hóa thành năng suất và giá trị gia tăng trong thực tiễn.

Thực tế minh chứng: Phát triển bền vững chỉ thuộc về những quốc gia biết tổ chức thực thi hiệu quả, biết học hỏi từ thực tiễn, điều chỉnh kịp thời trong quá trình triển khai. Rõ ràng, chỉ khi đặt năng lực thực thi vào trung tâm cải cách và lấy kết quả thực tế làm thước đo, các quyết sách của Đại hội XIV mới có thể thật sự đi đến đích và tạo nền tảng vững chắc cho phát triển bền vững của đất nước trong dài hạn ■

Việc ban hành chính sách mới chỉ là điều kiện cần; khả năng biến chính sách thành kết quả cụ thể mới là điều kiện đủ. Một bộ máy có thể ban hành nhiều văn bản và giải ngân đúng kế hoạch, nhưng vẫn có năng lực thực thi thấp nếu chính sách không tạo ra giá trị thực cho doanh nghiệp và người dân.