Bên hồ có hai cây vải thiều. Bọn trẻ chúng tôi thường tha thẩn chơi ở đây. Những cành to nhẵn lì bởi đám mông trẻ con chà xát suốt ngày. Mùa xuân chúng tôi háo hức chờ những vầng hoa vàng li ti rắc đầy vầng lá, hồi hộp khi những quả xanh tí xíu nhú ra. Nơm nớp nhất là những khoảng thời gian quả bắt đầu ưng ửng. Rồi một buổi sáng thằng Triều con ông Nhã thợ giặt chạy sang nhà tôi hớt hải: “Ra mà xem cây vải... cái lão Nhữ tham lam vặt trụi rồi”. Tôi đang vội đến trường thừ người ra: “Tớ đã bảo cậu hái từ hôm trước lại còn...”. Thằng Triều nhếch miệng mắt rịn cả nước: “Vải mới ương ương thế... Chẳng còn lấy một quả đèo nào gọi là có!”. Tôi xốc cặp co cẳng chạy, chỉ kịp ngoái lại dặn: “Cậu cũng đi học đi, chiều hãy hay”. Thằng Triều bằng tuổi nhưng học kém tôi một lớp, bé quắt, mặt già cấc. “Trông đã thấy khôn ranh”- Các bà trong khu thường bình phẩm về nó và lộ cả ý đề phòng, sợ nó tắt mắt lại lẩn nhanh hơn chạch. Chỉ có tôi mới biết nó không phải thế nhưng làm sao cãi lại người lớn.
Chiều tôi và nó ra mé hồ. Hai cây vải đẹp như mâm xôi gấc giờ trơ khấc toàn cành lá, xơ xác bơ phờ. Nhìn mà nẫu cả ruột. Tôi ngồi bệt xuống bờ cỏ, an ủi thằng Triều bằng cách đưa cho nó những quả thèn đen chín sẫm. Quanh mép hai đứa nhoe nhoét những vệt tím đen. Thằng Triều ấm ức: “Chúng mình quanh năm chơi với cây. Thế mà đến mùa chẳng được quả nào”. Tôi thả chân xuống hồ thấy mát lạnh, lòng dịu lại. “Thì ông ấy là bảo vệ, có quyền...”. Giọng thằng Triều thoảng qua tai: “Tớ chỉ thèm một lần được ăn vải cho đã thèm”. Tôi rủ thằng Triều ra bể nước. Giữa hai đầu khu nhà có một cái sân gạch đỏ, nhiều viên đã lõm nhẵn xuống, một cái bể to tướng nửa nổi, nửa chìm, mái khum khum. Góc sân có một bụi hồng bạch ra hoa quanh năm, thơm rượi. Góc kia, sát bức tường lửng là cây mít tơ cho lá để chúng tôi làm đồ hàng. Đây là thế giới của tôi. Một ngày không ra hồ nước, không ra gốc hồng là không sao chịu nổi. Tôi nhớ từng bông hoa, đếm từng cái nụ, mê từng cái lá xanh sẫm, bóng mờ, gợn hàng răng cưa li ti. Những năm tháng ấy chẳng ai quan tâm đến hoa bởi còn phải lo chưa đến kỳ đong gạo sổ mà thùng gạo ở nhà đã hết, phiếu thịt kỳ này không có mỡ bán kèm, đậu phụ nhiều sạn, cửa hàng đang có vải bán cho phiếu 5m... Không ai có ý định cắt hoa về cắm trong nhà nên hoa cứ thản nhiên nở rồi tự tàn. Và vì thế những trang sách yêu quý của tôi có nơi để đáp xuống. Này thì hoàng tử, này thì công chúa, những chiếc xe tứ mã, những chiếc tổ quạ và những bông kỵ phù lam rực rỡ. Thằng Triều đã từng chế nhạo tôi: “Nếu cậu đã từng đói lả như tớ nằm chân cột điện, mắt nổ hoa vàng chỉ thèm có một cái gì đó vơ vào mồm... liệu cậu có còn tưởng tượng được thế không?”.
Ra đây chơi là nó trèo lên bậc tường xây đu lên cây mít săm soi trong đám lá để kiếm dái mít. Hôm nay cũng vậy. Nhìn cái gương mặt láu lỉnh như con khỉ của nó nhăn lại vì chát, thấy bực mình. Nó bảo tôi rằng nó lúc nào cũng đói: đi học, đi chơi, và ngay cả trong lúc ngủ. Đã có lần nó giàn giụa nước mắt khi bố dựng dậy vào lúc đang mơ ăn bánh rán. Bố nó, ông Nhã có đôi tay và đôi chân to khác thường, làm nhiệm vụ giặt giũ cho cái phòng mang tên rất buồn cười là “sinh đẻ kế hoạch”. Nhà giặt chĩa hông ra hồ nước, có hẳn hai chiếc bệ xi-măng làm bàn giặt khá rộng, hai cái bể không mui to đùng và gần chục cái thùng giặt. Nhiều lần ông Nhã xắn quần nhảy vào thùng giặt, giẫm lấy giẫm để. Tôi ngó vào thấy nước trong thùng lẫn máu đỏ sủi ùng ục sợ tắc cả thở. Mãi rồi mới quen, mỗi lần muốn gọi thằng Triều, tôi chỉ dám đứng xa xa với vào. Ông Nhã thì đúng cữ giặt xong mấy thùng đồ là gọi thằng Triều mang cơm ra. Ngồi ngay bên bàn giặt, ông lấy cái thìa rạch ngang nồi cơm, rắc lên nhúm muối trắng rồi xúc ăn ngon lành. Xong xuôi ông trèo lên bàn giặt đánh một giấc. Nửa non xoong cơm còn lại dành cho thằng Triều. Có hôm nó vác cái xoong đen nhẻm, thủng một bên quai qua nhà tôi: “Bình ơi cho tao xin tý nước cà!”. Tôi chạy vào vại dưa cà vớt cho nó mấy cọng dưa củ cải vàng ươm, hai quả cà đã trót thâm và thêm tý nước dưa dơn dớt. Nó trộn tất cả vào nhau, ngồi phệt ngay bậc hè ăn thong thả, dành dè như chỉ sợ hết. Cái xoong nhẵn quẹn đến mức chẳng cần phải rửa. Chiều cứ thế đổ gạo, đổ nước vào nấu chẳng cần vo vì sợ mất chất.
“Thế mày chưa về nấu cơm à?”. Thằng Triều từ phía sau rụt rè gọi. Tôi ngẩng đầu và lòng dội lên nỗi lo mơ hồ. Khéo mẹ tôi đã về. Em chưa đón, nước chưa gánh và chưa gì hết. Tôi phóng thẳng một mạch. Thằng Triều lút cút chạy sau. Tôi nhồi mùn cưa vào bếp, bụi mù, nhóm lửa đặt nồi cơm rồi vơ quần áo mang ra bể. Thằng Triều lăng xăng chung quanh. Tôi ngạc nhiên: “Thế mày không phải nấu cơm à?”. Nó cười mếu, mấy cái vết nhăn tít hai má “Bà nội tao ra chơi. Với lại dạo này nấu một bữa ăn hai cho đỡ lách cách”. Tôi nhờ nó trông giúp nồi cơm, chạy sang nhà trẻ đón em. Chẳng biết sao cái Vân còi cứ khóc nhèo nhẽo. “Chắc nó đói đây. Ở nhà trẻ các cô cho ăn tớ còn lạ, cứ bảo sợ nóng nếm gần hết thìa bột mới đút cho cháu...”. Thằng Triều nói như bà cụ non rồi bàn: “Cậu sang gửi nó cho bà tớ bế giúp, quấy nhanh nồi bột... Nhưng cho tớ vét xoong nhé...”. Tôi đưa con bé vào lòng bà già rồi quầy quả về, mặc kệ nó khóc ngào ngào. Lát sau thấy nó im - may quá. Bê bát bột sang, tôi không tin vào mắt mình - em tôi đang mút lấy mút để cái vú teo tóp lòng thòng của bà già! Gần như giật lấy con bé, tôi gào lên: “Sao bà lại cho em cháu bú bẩn thế?”. Thằng Triều cầm xoong bột định vét, ngẩng lên: “Tại con bé khóc quá đấy thôi!”. Tôi quay ra quát cả nó: “Cậu thì biết gì, xéo đi!” Tôi bế em chạy về gặp lúc thằng em trai tan học đang quăng cặp sách bèn hét lên: “Sang ngay nhà ông Nhã bê bát bột về cho em”. Nó nhìn mặt tôi hầm hầm vội vàng cong đuôi làm theo. Tay giơ cao xoong bột nó đắc thắng khoe: “Em giành được với thằng Triều vét xoong rồi!”
Tôi và thằng em trai dọn cơm, mâm bát khua rổn rảng. Mẹ tôi bế cái Vân, mở nồi cơm khen “Con Bình dạo này nấu cơm khéo quá!”. Tôi cười thầm trong dạ. Nhìn thấy thằng Triều thập thò ngoài cửa. Mẹ tôi vẫy tay: “Vào đây Triều, cô cho bánh mỳ...”. Nó giật lùi, lảng ra, mắt nhìn mâm cơm rồi lại nhìn tôi, miệng lầm rầm: “Bố cháu gọi rồi...”. Hình như lúc ấy tôi không hề có ý định giữ nó lại.
Mẹ tôi chợt chống đũa, trầm ngâm: “Nhà quê bác Nhã đói to rồi. Giáp hạt họ phải gửi bà già ra đây cho bác ấy gánh đỡ. Ba người có một suất gạo...”.
Tôi chợt bần thần. Trên thằng Triều ở quê còn bốn cô chị nữa. Được ra thành phố ở với bố là nó được ưu tiên quá rồi.
***
Ông Nhữ qua nhà tôi. Lông mày xếch ngược, mắt lúc nào cũng vằn đỏ. Cổ lấm chấm đỏ như cổ gà chọi. Cái rổ ông cầm trên tay đậy mảnh khăn ướt thâm xì, con cá lộ ra cả đầu đuôi trắng lấp lóa lấp lóa. Giọng ông cố ra vẻ nhỏ nhẹ: “Tôi câu được con cá, biếu cô nấu riêu cho các cháu”. Mẹ tôi xua tay: “Bác vẽ vời làm gì. Mà đừng câu bác ạ, bảo vệ bên ấy họ bắt được thì khốn!”. Cái giọng nhỏ nhẹ kia chợt biến mất: “Tôi nói cô đừng giận chứ bảo vệ gì cái ngữ ấy. Đêm nào chúng nó chẳng đặt vó, câu chằng. Có đêm chúng nấu cháo cá gió quạt thốc sang đây thơm lừng điếc cả mũi. Tôi đứng đái xuống hồ chửi luôn: Tổ sư cái lũ ăn vụng ăn trộm như chớp lại còn lên mặt dạy đời... Thế mà cấm thằng nào ho he”. Mẹ tôi phì cười: “Thì hồ rộng chắc họ chẳng nghe tiếng”. Ông Nhữ hùng hổ: “Nghe chứ - Tôi chửi to lắm. Cô đi trực không biết chứ bà cụ nhà ông Nhã nghe lại tưởng tôi cãi nhau với ai...”. Rồi ông chép miệng: “Như cái nhà ông Nhã đấy, đói rã họng ra lại còn làm bộ. Tôi rủ đi câu cứ chối đây đẩy. Xem rồi chịu được mấy nả. Người đâu mà ngu chả biết lo lấy thân”. Ông hạ giọng: “Để hôm nào tôi rủ thằng Triều con lão - khổ thân thằng bé với bà già - đói quá ngủ cũng không nổi. Uống lắm nước chỉ tổ đi nhiều, cứ lục xục cả đêm... phải hai tuần nữa may ra mới đến cữ gặt cô ạ”. Ông đứng lên dợm bước định về, nghĩ thế nào dừng lại: “Tôi quý cô với các cháu đây. Hay là cô chê cá câu trộm thì tôi đành mang về vậy”. Mẹ tôi vội vàng: “Vâng thì ông cho cháu xin, kho dưa mỗi nhà một khúc...”. Ông Nhữ tươi nét mặt chào ra về. Cả hai ông Nhữ và ông Nhã đều nể mẹ tôi. Phần vì mẹ tôi là y sĩ, lại phụ trách công đoàn, nhưng phần chính là do bố tôi – một ông trung tá quân đội, bao giờ về nhà cũng đeo quân hàm quân hiệu đầy đủ. Lại còn hay sang uống nước chè, hút thuốc lào sòng sọc và bàn chuyện thời sự trong nước, thế giới với cả hai ông. Ông Nhã bảo từng ấy tuổi mà đã lên đến chức ấy là oách lắm rồi, tính khí dễ chịu ấy lính cũng sướng lây: “Cái ngày tôi ở vệ quốc đoàn có ông thiếu tá y hệt thế...”. Ông Nhữ gạt phăng khiến ông Nhã cụt cả hứng: “Dào ôi lúc nào cũng cái thời xưa. Ông đi lo cái thời nay đi, để mẹ với con chết đói là cái tội tày đình đấy. Ông thật là khờ. Đừng tưởng bở - tướng thế là khét với lính phải biết - dân vận cả thôi...”. Ông Nhã ngồi, mặt buồn xo khiến tôi thấy thương, đâm ghét cái ông Nhữ quá thể. Ai chẳng biết ông Nhữ khôn - họ bảo: “Vợ chết không đi bước nữa ở vậy nuôi con mà vẫn có bà bán rượu ra tá túc là một cái khôn. Căn nhà tập thể đầu hồi thoáng mát lại quây được mảnh vườn trồng rau là hai cái khôn. Làm bảo vệ nhàn tênh lại chấm chấm mút mút được tí nọ tí kia...”. Ông Nhữ nghe cả, lại thấy khoái chí khi được thiên hạ bình phẩm. Ông nhấm rượu của bà nhân tình mang ra với cá rán câu trộm dưới hồ, rung đùi: “Con cái ra ở riêng - một mình một cõi còn gì sướng hơn. Ở đời khôn sống mống chết...”. Ông phát mông bà bán rượu cái bộp rồi ngâm nga những câu gì đó mà ai cũng bảo “tục tĩu chết đi được” nhưng bà vẫn nghe và cười thích thú.
Tôi mang cá ra bể nước, thấy thằng Triều liền vẫy nó theo. Tôi đè đầu con cá, nó giữ chặt lấy đuôi rồi hè nhau mổ phanh bụng cá. Máu cá bắn lấm cả chân thằng Triều. Lòng cá ục ra nhoe nhoét. Xen lẫn mùi tanh là mùi thối xộc lên. Ngay dưới mũi dao của tôi là cái đám vàng vàng sền sệt. Tôi quẳng dao, bỏ cá chạy ra ọe lấy ọe để. Thằng Triều giành lấy dao làm nốt, cười nhăn nhở: “Chuyện vặt. Cá giói phải câu bằng phân người. Có gì mà sợ”. Tôi vặc: “Cậu đi mà ăn” rồi chạy về bắt đền mẹ. Lúc tôi đang ngồi học bài, thằng Triều bê cả cá, rổ và dao vào: “Cháu làm sạch sẽ lắm rồi, xát cả muối nữa”. Mẹ tôi nhủ khẽ: “Cháu mang về hộ cô. Cái Bình nó sợ cá. Nhưng đừng nói cho ông Nhữ biết nhé!”. Mặt thằng Triều sáng bừng nhưng vẫn vớt vát: “Hay là cháu bảo bà cháu kho giúp cô?”. Tôi quay ra gắt: “Bảo cậu mang về thì cứ mang. Không ai ăn đâu”. Nó gật lấy gật để và thoáng cái biến mất - cứ như sợ mẹ tôi thay đổi ý định.
Hôm sau tôi rụt rè hỏi nó con cá hôm qua thế nào. Nó nhe răng cười hề hề: “Ba bà con ăn vã gần hết. Bà bảo có cá đổ vạ cho cơm, thôi thì đừng nấu cơm nữa. Nhưng khổ thân bà ăn cá vã tanh dạ lại bị đi ngoài! Còn khúc đuôi – tí cậu cho tớ bát dưa đun lên nhé...”. Nó nuốt nước bọt đánh ực và thì thầm với tôi: “Ông Nhữ rủ tớ, tớ sẽ đi cùng. Có cá ăn thì khỏi lo đói”. Tôi cong môi bảo: “Lão ấy hay ho gì. Ăn tranh cả vải với bọn mình. Mà theo lão ấy khéo bị tóm thì bố cậu cho xơi vã đòn đấy!”. Nó ỉu xìu: “Nhưng nhà tớ hết gạo rồi...”
Bà thằng Triều sang bếp thì thà thì thụt với mẹ. Tôi vờ nhặt rau, nghe lỏm: “Cháu nó sát cá lắm, chẳng kém gì ông Nhữ. Tôi mang ra chợ bán, đong được hai bơ gạo, cũng đỡ. Tôi nói là vay bên cô...”. Mẹ tôi lục thùng mì sợi trong góc bếp, trút cho bà lưng rá: “Bà cầm về ăn cho lạ miệng, bảo cháu nó khéo không rồi...”. Bà thằng Triều tần ngần: “Cô cứ cho thế này tôi ngại quá. Cô đừng nói gì với bố nó nhé kẻo lại ầm lên”. Mẹ tôi thở dài.
(Còn nữa)