Một Việt Nam “ngon lành” trong mắt thế gian

Cảnh đẹp thiên nhiên và nền ẩm thực phong phú được coi là đôi cánh của ngành du lịch. Vẫn còn những giá trị quan trọng khác như tín ngưỡng, phẩm cách con người… để thu hút du khách, song có lẽ, những điều thỏa mãn được mắt nhìn, miệng nếm vẫn đem đến sức hấp dẫn lớn nhất.

Cỗ vịt dấm ghém Hà Nội - một màn “hoán vũ hô phong”.
Cỗ vịt dấm ghém Hà Nội - một màn “hoán vũ hô phong”.

Người Pháp có một câu châm ngôn rất thâm thúy: “Con đường ngắn nhất đi đến trái tim của người đàn ông phải đi qua dạ dày”. Còn người Ý lại nói: “Người ăn ngon, sẽ sống tốt”. Thế nên, chẳng có gì ngạc nhiên khi hai dân tộc này sở hữu nền ẩm thực ngon, đa dạng và danh tiếng nhất thế giới, quyến rũ được cả thế giới.

Còn người Việt Nam lại mộc mạc hơn, chỉ là mơ ước được “Ăn ngon, mặc đẹp”. Ăn ngon luôn là ưu tiên hàng đầu, đứng đầu tứ khoái bởi chưng người Việt luôn tâm niệm “Dân dĩ thực vi tiên - Người dân lấy việc ăn uống là trước tiên, là cao nhất”.

Và bạn hãy giở mục từ “Ăn” trong Đại từ điển tiếng Việt ra mà xem, có tới gần 100 cách dùng từ “ăn”, mặc dù đa số không liên quan đến việc ăn uống, mà chỉ là đặc tính, phẩm chất của vô số tính chất, phẩm chất của đủ thể loại hành vi, vật chất trong cuộc sống. Ăn ảnh, ăn lời, ăn dầu, sơn ăn mặt, thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ, ăn uống, ăn chơi, ăn Tết…

Sự chi phối của việc ăn và ăn ngon đã thôi thúc người Việt sáng tạo ra một nền ẩm thực ngon, bổ, lành, đa dạng, phong phú vô cùng. Sức sáng tạo của người Việt quả thực là vô song, bởi chỉ từ một nguyên liệu bình thường, rất nhiều món ăn ngon đã được hình thành.

Hãy nhìn vào mâm cỗ của người Hà Nội để thấy được màn hô phong hoán vũ “nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam biến hóa vô cùng”. Chỉ từ thịt lợn - thứ nguyên liệu phổ biến nhất trong xã hội Việt Nam, người ta làm ra cả một mâm cỗ linh đình, thịnh soạn.

Thịt nạc để gói giò lụa, chả quế, chả mỡ, chả cốm, viên mọc, xào hạnh nhân, nấu bóng; mỡ rán để cho các món rán, xào ; bì dùng làm bóng, nem chạo, nem cuốn, nấu thịt đông; xương hầm lấy nước nấu canh bóng, canh măng; chân giò hầm măng lưỡi lợn, hầm bát vị; thịt thủ để gói giò xào; ba chỉ gói bánh chưng, kho tàu…

Như thế, chỉ trong một mâm cỗ 4 bát 6 đĩa thì thịt lợn đã tham gia vào 8/10 món. Chỉ cần thay đổi một chút gia vị, kiểu cách chế biến là miếng thịt lợn lại hóa thành một món ăn khác. Điều này có thể bình thường với người Việt, song lại vô cùng đáng kinh ngạc trong mắt du khách nước ngoài.

Chính vì thế, nguyên lý “tam biến hóa vô cùng” đã khiến cho ẩm thực Việt Nam có số lượng món ăn khổng lồ. Chỉ là từ một sợi bún mà chúng ta có đến cả trăm món bún khác nhau, mà có lẽ dùng cả quỹ thời gian 365 ngày mỗi năm để nếm mỗi ngày một thức bún thì cũng không hết được.

232.jpg
Khi mỗi món ăn được kể lại bằng ký ức, bằng triết lý sống và bằng sự trân trọng nguyên liệu, ẩm thực sẽ thật sự trở thành một hành trình du lịch đúng nghĩa.

Dễ hiểu tại sao, nền ẩm thực đường phố của Việt Nam lại có sức hút giống như của “lỗ đen” với dạ dày của người nước ngoài. Họ không thể tin nổi, chỉ trong danh mục đồ ăn sáng của Việt Nam, đã ngồn ngộn hàng trăm món, tứ thời bát tiết thay nhau luân chuyển.

Không những đa dạng đến mức khó có thể thống kê đầy đủ, mà các món ăn Việt Nam lại rất ngon về mặt hương vị. Cái nem rán chỉ đơn thuần là một chút thịt lợn băm nhỏ, thế nhưng, khi cắn miếng đầu tiên đã thấy âm thanh giòn giã, tươi vui vang lên như lời reo của miệng lưỡi, đồng thời những hương vị của trứng gà, miến, mộc nhĩ, củ đậu, hạt tiêu, vỏ nem đan quyện, lan tỏa...

Vậy nên, khách nước ngoài rất thích thú cầm cái nem nhỏ như ngón tay, có mầu vàng rộm và vẻ ngoài đơn giản, và tận hưởng mùi thơm và hương vị rất riêng. Càng tuyệt vời hơn khi chấm cái nem đó vào thứ nước chấm chua chua ngọt ngọt thơm mùi tỏi, ớt, hạt tiêu, cà cuống ăn cùng rau sống tươi mát, đu đủ giòn tan, cà rốt ngọt nhẹ và bún...

Cách dùng nhiều loại gia vị để nêm nếm, gia giảm đã làm biến đổi hương vị cơ bản của nguyên liệu, tạo ra một “nhân dạng” cho nguyên liệu, khiến người ta sững sờ, thảng thốt khi biết được sự thật. Màn biến hóa đó được kiểm soát bằng triết lý ngũ hành tương sinh, tương khắc, đủ để các nguyên liệu không xung đột, đả phá nhau mà lại hòa hợp tuyệt đối trong sứ mệnh trở thành một miếng ngon.

Tô bún bò Huế là một thí dụ cụ thể. Cách sử dụng mắm ruốc và sả tươi trong nồi nước hầm xương đã tạo ra một thứ nước dùng có thể dung hòa mọi nguyên liệu khắc nhau trong bát bún như thịt bò và thịt lợn. Cho nên, ở bát bún bò Huế chúng ta thấy thịt bò, giò heo, tiết, chả cua cùng hòa hợp tạo nên “thứ xúp ngon nhất thế giới” theo bình chọn của du khách nước ngoài trên CNN.

Từng làm rất nhiều chương trình trên toa Thóc - Lúa - Gạo thuộc dự án Toa xe điện số 6 của phường Ba Đình (Hà Nội) để giới thiệu các món ngon của Việt Nam với khách nước ngoài, miệt mài kể những câu chuyện về ẩm thực Việt, tôi đã gặp rất nhiều ánh mắt sững sờ của thực khách khi chạm vào sự tinh tế của nem rán, bún thang, hay lúc “va phải” sự sáng tạo của người Việt trong món sốt vang của người Pháp, hoặc khi tiếp cận độ biến hóa của phở với món phở cuốn, phở chiên phồng, và cả các món chè từ gạo như chè cốm, chè bà cốt, chè con ong…

Người ta có thể đến một thành phố xa lạ chỉ vì tò mò hay công việc. Nhưng người ta sẽ chỉ yêu thành phố đó và muốn quay lại sau khi đã thưởng thức những món ăn ngon tại đó. Và món ăn sẽ trở nên ngon hơn gấp nhiều lần, nếu như khách được chia sẻ những câu chuyện về lịch sử ra đời, nguồn gốc, thành phần, cách chế biến món ăn ấy. Tình yêu nảy sinh từ món ăn ngon, từ những câu chuyện mang triết lý ẩm thực khiến người ta luôn nhớ nhung, ao ước được trở lại đó, để lại được ăn, được thỏa mãn cơn thèm.

Du khách tới Việt Nam không chỉ vì có những bãi biển nằm trong Top 10 đẹp nhất thế giới hay có phong cảnh rừng núi ngoạn mục nữa. Mà còn vì Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Hội An, Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh miền Tây Nam Bộ… đều là những căn bếp vĩ đại, nơi hằng ngày nấu ra hàng nghìn món ăn đa dạng, phong phú, quyến rũ...

Ẩm thực Việt Nam không hề thiếu món ngon, và lẽ ra nó phải là nguồn lợi lớn cho du lịch. Tuy nhiên điều chúng ta còn thiếu chính là những câu chuyện đủ sâu để dẫn dắt thực khách đi cùng lịch sử, văn hóa và tinh thần của những vùng đất ấy. Khi mỗi món ăn được kể lại bằng ký ức, bằng triết lý sống và bằng sự trân trọng nguyên liệu, ẩm thực mới thật sự trở thành một hành trình du lịch đúng nghĩa. Du khách không chỉ đến để ăn no, mà để hiểu, để cảm và để nhớ. Thưởng thức ẩm thực, vì thế, phải là một thực hành văn hóa. Chỉ khi đó, du lịch ẩm thực mới có thể đi xa, đi bền và chạm được vào trái tim người thưởng thức.

Xin khép lại bài viết này bằng câu châm ngôn cũng của người Pháp: “Nghệ thuật ẩm thực là một nghệ thuật vô cùng ấm áp. Nó vượt qua rào cản ngôn ngữ, kết bạn giữa những người văn minh và sưởi ấm trái tim” ■

Đã đến lúc Việt Nam cần nhìn nhận ẩm thực như một di sản sống, cần được kể lại bằng ngôn ngữ văn hóa thay vì chỉ bằng thực đơn. Chỉ có văn hóa và ký ức thì vị mới hình thành.

Có thể bạn quan tâm