Một đời hỏi chuyện sông Hương

Có trong vườn mấy chục ngàn món cổ vật nhưng hễ ai gọi là nhà sưu tầm, nhà nghiên cứu là ông lão Hồ Tấn Phan lại gạt đi: "Nghiên cứu nghiên kiếc mần chi nghe to tát dễ sợ. Tui chỉ là một người ham đọc sách và may mắn được đọc nhiều sách nên biết nhiều, hiểu được nhiều chuyện thôi". Bà vợ ông thì ngồi một góc, chậm rãi mủm mỉm: "Ông nớ là lão già đại gàn đó o".

Quá nhiều hiện vật nên ông Phan "trưng bày" đồ cổ khắp mọi nơi.
Quá nhiều hiện vật nên ông Phan "trưng bày" đồ cổ khắp mọi nơi.

"Duyên tiền định"

Ngôi nhà nhỏ của "lão đại gàn" Hồ Tấn Phan nằm lặng lẽ, khiêm nhường trong kiệt 28 phố Cao Bá Quát (phường Phú Hậu, TP Huế). Khắp mảnh vườn hơn ba nghìn mét vuông, đâu đâu cũng la liệt những món đồ gốm do ông nhặt nhạnh trong suốt mấy chục năm qua. Ông Phan gầy guộc, nét mặt khi trò chuyện rất biểu cảm. Khoát tay như muốn bao trọn cả khu vườn, ông nhăn nhó: "Như là duyên tiền định, như là bị giời đày thôi o ơi...".

Cái "duyên tiền định" mà ông Phan nhắc đến, khởi nguồn dễ cũng đã bốn chục năm. Vợ ông vốn là y tá, nhưng mấy chục năm trước, bà con nghèo mấy ai có khái niệm đưa vợ đi trạm xá, đi bệnh viện để sinh con; thế là bất kể đêm hôm, mưa gió, cứ có người đến đập cửa cầu cứu là bà lại xách đèn bão đi làm công việc của bà đỡ. Một lần, bà đỡ đẻ cho gia đình ở xóm vạn chài. Dân vạn chài nghèo khó, lắm lúc còn chẳng đủ ăn thì nói gì đến chuyện có đồng tiền giắt lưng. Mọi việc xong xuôi, anh chồng mới gãi đầu gãi tai xin được "trả công" bằng mấy món đồ gốm. Bà mang mấy món đồ ấy về nhà, chẳng biết nên buồn hay vui, và cũng chẳng biết phải làm gì với mấy thứ đồ gốm linh tinh ấy.

Ông Phan vốn là anh giáo làng mê lịch sử. Ông đã đọc không ít sách vở, mà chưa thấy nơi nào nói về những "tàng thư" ngủ yên dưới đáy sông. Mấy món đồ gốm bà vợ mang về, ông săm soi nhìn ngắm. Ông bảo bấy giờ kiến thức về gốm sứ của ông gần như chưa có gì, nhưng càng ngắm, ông càng như bị lôi cuốn, và ông linh tính đó chính là "chìa khóa" để ông có thể mở thêm một cánh cửa vọng về quá khứ. Ông Phan nài nỉ vợ đưa đến gia đình người vạn đò đó. Bà vợ cáu lắm, nhưng thấy ông háo hức, say sưa quá, cũng đành vừa dẫn ông đi vừa than trời: "Mấy món đó có cái chi mà ông kêu tui phải dẫn ông đi bằng được vậy trời?".

Cả ông và bà vợ đều không ngờ được rằng mấy món đồ gốm đó đã đeo bám gia đình ông mãi đến tận mấy chục năm sau này.

Đổ gia tài vào gốm cổ

Khi vợ dẫn ông Phan đến xóm vạn đò, ông mới biết rằng những người thợ lặn mưu sinh bằng việc mò ốc, cào hến, tìm sắt thép trên sông Hương đã vô tình vớt lên những thứ đồ gốm đồng nát kia. Đó là nồi, niêu, là đèn, là bình vôi, ống nhổ... Họ cứ vứt la liệt khắp nơi thế thôi. Chỉ đến khi ông Phan tìm đến, họ mới dần dần gom lại, bán mớ bán đùm cho ông như người ta bán đồ đồng nát. Đồng lương vốn đã còm cõi của ông giáo nghèo nay lại phải dè sẻn, cắt xén bớt cho những thứ "trời ơi đất hỡi" ấy. Bảy người con ăn học nên vợ ông nhiều lúc cũng cáu lắm. Nhưng thấy chồng ham mê đến độ sẵn sàng bỏ thói quen thuốc lá, thuốc lào, bỏ cà-phê, chè mạn, bà lại thấy thương. Đến khi ông nghỉ hưu non vì mất sức, không có thu nhập, nhiều lần không mua được món đồ ưng ý, ông ngơ ngẩn như người mất hồn. Bà vợ lại càng thương. Rồi từ thương lại chuyển sang trọng cái lòng ham chữ nghĩa, mê lịch sử của chồng.

Bà vợ ông Phan bảo ông là "lão đại gàn" cũng đúng, bởi chẳng ai chơi đồ cổ mà hầu hết là những thứ sứt mẻ, chỉ mất tiền mua chứ không thể bán chác. Đồ cổ gì mà để phơi nắng phơi mưa mấy chục năm ngoài vườn cũng chẳng... trộm nào thèm lấy đi dù chỉ là một mảnh. Bà cáu thì cáu thế, chứ bà biết ông Phan chơi đồ cổ không phải để kinh doanh mà để nghiên cứu văn hóa và lịch sử của người Việt mình.

Sau này, khi bảy người con phương trưởng, thành đạt; con cái biếu xén đồng nào là bà lại đưa cả cho ông. Vì bà biết, tiền ấy thì cũng chỉ... đổ xuống sông Hương thôi chứ chẳng đi đâu cả. Cứ thế, của chồng, công vợ, bây giờ vườn nhà ông bà có đến mấy chục nghìn món đồ cổ, mà phần nhiều chỉ là những mảnh vỡ.

Nhưng, "dòng sông không kể chuyện bằng ngôn ngữ đời thường mà bằng hiện vật. Nó mang hơi thở thời đại từ mấy nghìn năm trước của tiền nhân. Trước năm 1975, ít ai biết rằng dưới dòng sông Hương lại có nhiều cổ vật đến thế. Kể cả nhà bác học Lê Quý Đôn - người được cử vào làm Hiệp trấn Thuận Hóa và cũng chính trên đất Thuận Hóa xưa, ông đã cho xuất bản tác phẩm Phủ biên tạp lục, tác phẩm có giá trị hiếm hoi viết về xứ đàng trong với giá trị khoa học cao. Tuy vậy, cụ Lê Quý Đôn cũng chưa biết những trầm tích ở đáy sông Hương..."- ông Phan tự hào nói.

Để hiểu cuộc sống ông cha

Một đời hỏi chuyện sông Hương ảnh 1

"Ông già đại gàn" Hồ Tấn Phan nói, ông chơi đồ cổ không phải vì kinh tế.

Ông Phan nhờ con cháu sắm cho một chiếc máy ảnh, mỗi món đồ gốm đều được ông chụp lại, ghi chép, làm "hồ sơ" lưu giữ cẩn thận. Cái máy ảnh Nikon, mỗi lúc chụp xong, ông lấy túi nilon xanh đỏ buộc nó lại, treo lên mắc mây. Ông bảo, tui chỉ dùng nó để chụp ảnh, làm hồ sơ cho đồ vật chứ tui có biết chi về máy ảnh đâu, cẩn thận quá với nó làm chi cho mệt.

Cứ nghiên cứu đầy miệt mài, đầy... hồn nhiên thế; từ nồi, niêu, chum, vại... dưới đáy sông Hương, ông Phan đã "đọc thấy" đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán - từ cách ăn nết ở cho đến giao tiếp của người Chăm-pa xưa. Rồi cũng nhờ sông Hương kể chuyện, ông biết được những trang sử đầu tiên, khi người Việt tiến vào vùng Thuận Hóa. Cũng nhiều lần ông đặt câu hỏi tại sao lại có nhiều đồ gốm cổ dưới đáy sông Hương chứ không phải là những con sông khác ở các tỉnh liền kề? Dần dần ông lý giải, có thể do thuyền bè chở đồ gốm đến Thuận Hóa thì bị chìm, rồi do lụt lội, ngập xóm ngập làng mà nhiều đồ gốm trôi theo dòng nước, nằm lại dưới đáy sông. Và cũng vì tập quán của người Huế xưa nữa, thứ gì vỡ là đều ném xuống sông. Thế nên sông Hương và các nhánh sông của nó mới có nhiều mảnh gốm cổ đến vậy.

"Kho báu" của ông - lúc sinh thời, cố GS Trần Quốc Vượng cùng nhiều nhà nghiên cứu lịch sử khác đánh giá rất cao. Ông chưa bao giờ có ý định giữ "kho báu" ấy cho chỉ riêng mình. Cũng nhiều lần ông muốn mở triển lãm, nhưng nghĩ đến bài toán kinh tế thì ông chịu. "Ông già đại gàn" Hồ Tấn Phan ấy rất thích chữ "duyên", ông bảo số phận "kho báu" cứ để chữ "duyên" quyết định. Vì "kho báu" ấy là lịch sử, là văn hóa, là sở hữu toàn dân chứ nào phải của riêng ai.