Rất lâu tôi mới có dịp đến Ki-ép từ Típ-phơ-lích. Chuyến tàu tới ga vào buổi chiều. Đang giữa mùa xuân, hoa cát-xtan nở rộ, ánh sáng rực của hoàng hôn nhấp nhánh dưới mái vòm nhà thờ Vla-đi-mia-xki, phố cổ Crét-a-tích ở trung tâm ồn ã sang trọng. Nó càng làm cho tôi cảm thấy căn hộ, nơi mẹ và em gái Ga-lia đang sống, trở nên tội nghiệp và trống trải hơn.
Hai năm lẻ đã trôi qua kể từ khi tôi rời Ki-ép về Ô-đét-xa và sau đến Típ-phơ-lích. Mẹ và Ga-li-a đã già đi nhưng thanh thản hơn trong quãng thời gian đó. Bằng mọi khả năng tôi thường xuyên gửi tiền cho mẹ và luôn lo rằng nó quá ít ỏi không đủ cho bà chi dùng trong đời sống. Nhưng mẹ không hề ca thán.
- Cô-xchi-a thân yêu, bà nói sau những giọt lệ đầu tiên và vô số câu hỏi hỗn loạn, mẹ và Ga-li-a đã tìm thấy một phương cách sống tuyệt vời, đỡ phải chi tiêu và sầu não.
- Cách thế nào hả mẹ?
- Cứ nhìn vào phòng, con sẽ hiểu?
Tôi nhìn lướt căn phòng. Bức tường màu vàng, giống như ở trong bệnh viện, đồ đạc nghèo nàn, hai chiếc giường sắt vẹo vọ, một chiếc tủ cũ, bàn ăn, ba cái ghế chung chiêng và một tấm gương treo tường. Tất cả được bao phủ một lớp mỏng xám xịt như bụi. Nhưng không có tí bụi nào. Màu xám của đồ vật do cũ và ít được lau rửa.
- Anh biết không? Ga-li-a nói với nụ cười đau yếu phía sau cửa sổ, nơi hắt ra những tia nắng lóng lánh của mặt trời, em và mẹ còn sửa chữa cả căn hộ đấy!
Tôi chưa kịp hỏi riêng mẹ xem thị giác của Ga-li-a thế nào nhưng để ý thì biết rằng em đã là người khiếm thị. Mẹ dùng mắt ra hiệu cho tôi về phía Ga-li-a rồi vội vàng rút từ trong ống tay áo chiếc khăn cũ lau vội lên mắt.
- Mẹ, Ga-li-a lo lắng hỏi, mẹ khóc à?
- Vì vui quá con ạ, mẹ trả lời giọng khàn đi, anh Cô-xchi-a đã đến và chúng ta lại được ở bên nhau, mẹ con mình lần nữa không cô độc.
- Anh Cô-xchi-a đã đến, Ga-li-a chậm rãi nhắc lại, đã đến! Anh của em, cô bé nói thêm lần nữa như chưa tin vào thực tại và đang giới thiệu tôi với ai đó.
- Đúng, anh của tôi đây! Em thoáng im lặng - Anh Cô-xchi-a này, em và mẹ đã tranh luận với nhau rất lâu, bức tường nay được sơn màu gì? Họ sơn màu da cam. Quả là thật đẹp, đúng không anh?
- Rất đẹp, tôi trả lời và nhìn vào bức tường được quét bằng một thứ sơn màu vàng, rẻ tiền.
- Quá đẹp.
- Mẹ nói rằng vào những ngày u ám trong phòng vẫn như có ánh sáng mặt trời soi sáng?
- Đúng thế, tôi nói, bức tường này màu rực rỡ và ấm áp. Mẹ với em tìm đâu ra thứ sơn đẹp thế?
- Em không nhìn thấy gì, Ga-li-a nói và lại mỉm cười không phải với tôi mà với ai đó ở góc phía bên kia, chúng tôi cảm thấy dường như có chút hơi ấm từ bức tường.
Cô bé chậm rãi tiến đến gần tôi, tay bám vào chiếc bàn ăn xấu xí. Em khẽ đụng vào những ngón tay tôi, nắm từng lóng xương của bàn tay lên đến vai và chạm vào cổ.
- Ối, anh không cạo râu à? Cô bé nói và phá lên cười khanh khách, ngón tay em bị châm đây này. Em không làm được hoa từ các phế liệu.
Không nhìn thấy gì cả. Bây giờ chị hàng xóm - thợ đan len - cho em cuốn len thuê. Chị ấy trả em hai rúp mỗi cuộn.
- Khi Ga-li-a cuốn len, mẹ nói, mẹ đọc sách cho nó nghe. Bây giờ con đã hiểu mẹ và em sống bằng gì?
- Vậy, con đã hiểu, tôi trả lời và cố giấu nỗi buồn của mình. Tôi hiểu tất cả.
- Ở nhà, mẹ nói, bán đi tất cả những gì thừa thãi, không cần thiết.
- Bán ở chợ Giứt-nưi, Ga-li-a nói, ấm pha trà cũng chẳng cần. Hoặc các cuốn an-bum cũ rích. Nhà mình có những bốn cuốn. Nó nằm lâu rồi ở trong kho của bà Cô-dlốp-xkôi. Đó là một bà già lụ khụ và lặng lẽ, bạn lâu năm nhất của mẹ.
- Tất cả bưu ảnh thì mẹ giữ lại, bà nói như cải chính.
- Mẹ thật may. Không nghĩ rằng ai đó sẽ mua những quyển an-bum này.
- Và ai mua, con tưởng tượng được không? Mẹ chen vào. Một thầy tu nào đó của nhà thờ Brát-xki. Ông ấy mua cả bốn quyển. Họ cần thứ đó. Nào, con đoán xem, họ mua làm gì? Tôi không thể đoán ra.
- Làm những cuốn sách có gáy bằng nhung rất mất công. Thầy tu bán nó cho các nhà thờ địa phương để họ làm sách Kinh thánh, còn chúng ta thoát được đống đồ cũ. Và sống thanh thản hơn. Mẹ cho rằng đống đồ đạc làm tiêu tan sức lực và giày vò con người. Chúng bắt ta trở thành nô lệ.
Tóm lại, mẹ nói, hình như khi mình chấm dứt những mong muốn thì dễ sống hơn. Mẹ và em giảm nhu cầu chi tiêu tới tối thiểu.
Mẹ nói điều đó giọng thoáng tự hào. Chuyện gì đã xảy ra với bà già? - tôi hỏi Ga-li-a, đã mua hoa của em cho nghĩa trang Bai-cô-xa.
- Bà cụ mất rồi! Em đã đặt trên mộ cụ một vòng hoa toàn là hoa cúc.
- Vòng hoa thật đặc biệt, mẹ thở dài, vòng hoa cuối cùng. Bây giờ mẹ sẽ đi hâm lại thức ăn và con kể cho mẹ nghe về con. Được không? Hãy tạm ra ngồi ở phòng Ama-li hay ở ban công, ngoài không khí nhé.
Tôi nhấc bổng Ga-li-a, đi qua phòng Ama-li ra ngoài ban công.
Ama-li không có nhà. Ga-li-a đi trên mặt sàn nhà tựa như đi qua một dòng sông nhỏ khi dùng bàn chân dò dẫm đáy sông.
Chúng tôi cùng ngồi ở ban công. Nó nhô ra về hướng rừng thực vật. Thi thoảng tàu điện chạy qua kêu ken két trên đại lộ Bi-bi-cốp-xki. Một đám cỏ cao trội lên giữa những viên đá cuội lớn trên giảng đường nhà thờ Vla-đi-mia-xki. Chiều muộn. Ánh sáng hoàng hôn được phản chiếu bởi vô số cửa kính rải nắng đầy mặt phố.
- Cô-xchi-a, Ga-li-a hỏi, có phải anh đã đăng một số truyện ngắn?
- Do đâu mà em biết?
- Gin-đa, chị gái của Em-ma đến chơi.
- Thế à?
- Sao anh không gửi truyện cho em và mẹ?
- Anh có mang nó theo đây?
- Vậy nghe này, Ga-li-a thì thào, vẻ bí mật, anh hãy đặt nó lên giường, lên tủ trong vài phút, đừng nói gì với mẹ nhé. Anh biết không? Mẹ chỉ có một ước mơ duy nhất là anh sẽ trở thành nhà văn thực sự. Mới đây mẹ nói rằng nếu anh làm được một điều gì có ích cho mọi người, cho dù là nhỏ bé thì đó là sự chuộc lỗi cho mọi sai trái của cha. Anh viết về cái gì? Có thể làm cho con người bớt đau khổ hơn không? Anh nghĩ sao?
Cửa bị gõ liên tục.
- Trốn đi, Ga-li-a nói nhanh, đó là Ama-li-a. Chị ấy sẽ ngạc nhiên cho mà xem.
Tôi nấp sau cái thùng gỗ. Ama-lia đi vào, dừng lại trước ngưỡng cửa, giơ tay lên và mệt mỏi sửa lại mái tóc rất đẹp.
- Tôi ngồi nhờ phòng chị, Ga-li-a nói, vì mẹ đang rán thịt. Phòng tôi khét lèn lẹt.
Ama-li-a cười nụ và hỏi: - Nào anh ấy ở đâu?
- Ai? Ga-li-a e dè hỏi lại.
- Anh ấy ở đâu? Ama-li-a nhắc lại.
Cô-xchi-a dễ thương. Ở mắc treo áo của anh ấy.
Đến đây cô ta nhìn thấy tôi, túm chặt lấy, lôi ra giữa phòng, ôm vào cổ và hôn thật mạnh, rõ to nhiều lần như những thôn nữ.
Tôi đã làm như Ga-li-a khuyên tôi, đặt ba truyện ngắn của tôi được cắt ra từ tờ báo in nó, vào dưới gối của mẹ lúc cuối chiều khi mẹ đang nấu ăn trong bếp.
Tôi tất nhiên thấp thỏm và lẻn ra ngoài phố. Lang thang dọc các con phố, tôi đoán mãi, mẹ đã đọc hay chưa các truyện ngắn ấy. Cuối cùng tôi không giữ được bình tĩnh nữa và quay trở về nhà. Mẹ mở cửa. Bà ôm lấy mái đầu tôi bằng hai bàn tay và hôn mạnh vào trán. Cặp mắt đẫm lệ. Nếu như con có thể biết, bà nói, Cô-xchi-a thân yêu, ta vừa được đọc xong cái gì? Gửi tới con lời cảm ơn từ tất cả chúng ta, từ bố, từ anh em và từ Ga-li-a kém may mắn.
Mẹ không thể nói hơn. Bà ngồi trên chiếc ghế đẩu ở ngưỡng cửa.
- Cho mẹ xin cốc nước, bà nói.
Tôi lấy từ trong bếp ca nước và đưa mẹ uống.
- Đây là con trai của tôi, bà nói và thì thầm vuốt ve bàn tay tôi. Cô-xchi-a thân yêu! - Thế nào mẹ, tôi nói để bà vui, con sẽ ở lại đây cùng gia đình mình.
- Không cần thiết, mẹ nói giọng cứng cỏi, hãy đi con đường của mình, chỉ có điều là đừng quên mẹ và em.
Bây giờ mẹ nghẹn ngào và khóc òa lên. Tôi vội ôm mẹ vào lòng.
- Nếu như bố con còn sống, mẹ nuốt nước mắt nói, ông ấy sẽ hạnh phúc biết bao. Bố con là một con người kỳ diệu, Cô-xchi-a thân yêu, con người kỳ diệu nhất trên cõi đời này. Mẹ tha thứ cho bố tất cả. Và con cũng nên tha thứ cho ông ấy. Con có một tuổi trẻ gian khổ. Bây giờ mẹ đã có thể yên tâm nhắm mắt. Nhưng hãy hứa, nếu mẹ chết con sẽ cưu mang Ga-li-a?
Tôi hứa như vậy nhưng cuối cùng sự việc xảy ra không như mẹ tôi dự đoán. Mẹ đã không kịp nhìn thấy quyển sách đầu tiên của tôi. Số phận đã hành xử với mẹ tôi và Ga-li-a một cách bất ngờ và không công bằng. Và thế là mùa hè năm đó tôi quay về Côn-xi-đa để viết cho xong sách về cận nhiệt đới. Ở Pô-ti tôi bị ốm vì một căn bệnh siêu vi khuẩn nào đó, phải nằm rất lâu trong bệnh viện, chống chọi vất vả với cái chết và trong thời gian đó mẹ tôi đã mất ở Ki-ép vì bệnh phổi. Một tuần sau Ga-li-a cũng ra đi. Không có mẹ con bé không thể sống được vài ngày...
Ama-li-a mai táng mẹ tôi và Ga-lia trong bãi nhỏ chật hẹp ở một nghĩa địa bỏ hoang khô cằn gần khu nghĩa trang Ba-kơ-vưi.
Vất vả lắm, tôi mới tìm được mộ của họ nằm dưới đám cây tầm ma màu vàng rực. Hai nấm mộ cùng chôn chung trên một gò với chiếc bảng sắt tây cong vênh có kẻ dòng chữ: "Ma-ri-a Gri-gô-vích và Ga-li-a Gri-gô-vích Pau-tốp-xki an nghỉ tại nơi đây".
Tôi không thể ngay lập tức đọc hiểu những dòng chữ này vì nó bị vấy bẩn do mưa. Những ngọn cỏ xanh mướt, hầu như vô cùng mỏng manh trườn dài xuyên qua các vết nứt nẻ của tấm bảng nhỏ.
Thật lạ lùng và cay đắng khi nghĩ rằng mọi thứ như vậy đã chấm hết! Ngọn cỏ này, vật duy nhất trang sức cho cuộc đời bất hạnh, nó cũng như nụ cười ốm yếu của Ga-li-a, như giọt lệ vương trên mi mắt khiếm thị của em, nó nhỏ bé đến mức không ai và không ở đâu có thể nhìn thấy.
Tôi chỉ còn lại một mình. Tất cả đã ra đi. Mẹ, cuộc sống ngày xưa của tôi, không phải vô ích và ngẫu nhiên - nằm ở đây, dưới những tấc đất sét của Ki-ép trong một góc nghĩa trang cạnh đường sắt.
Ngồi bên cạnh mộ, tôi cảm thấy đất như rung lên. Chắc hẳn ở dưới ấy, mẹ vẫn đang lo lắng cho tôi. Mẹ hay nhìn vào mắt tôi và hỏi:
- Con không giấu mẹ điều gì chứ, Cô-xchi-a thân yêu? Này, không được giấu nhé. Con vẫn biết rằng mẹ sẵn sàng đi đến tận cùng thế giới để giúp con.