Kỳ thú hang Lò Cao

Mấy ngày hè rồi, tình trạng cúp điện ở nhiều vùng nông thôn khiến nhiều người Bến Sung nhớ lại ngày cũ, cái thời cứ trưa hè bỏng rát lại rủ nhau vào hang Lò Cao (thị trấn Bến Sung, Như Thanh, Thanh Hóa) để tận hưởng sự mát lạnh như trong phòng điều hòa.
Lò Cao trong hang được phục dựng lại. Ảnh tư liệu
Lò Cao trong hang được phục dựng lại. Ảnh tư liệu

Những ngày đã qua

Sinh ra ở thị trấn Bến Sung nên tôi cũng nhiều kỷ niệm với hang Lò Cao. Mùa hè, không phải đi học, nhiều bạn rủ nhau bắt tổ chim sáo trên vách đá dựng đứng gần cửa hang. Có người nhỡ nhàng, rồi không bao giờ quay lại trường học được nữa. Có trường hợp làm đồng sát chân núi, bất thình lình, đá từ trên đỉnh lăn xuống, đè chết. Có thể do vách đá trước bị đánh bom nhiều nên cũng mong manh hơn nơi khác.

Dân ở đây vẫn gọi chỗ này là hang Đồng Mười. Nó nằm trong quần thể núi đá Đồng Hang chạy song song với núi đá Đồng Kênh. Giữa hai dãy núi này có một khoảng đất bằng tạo nên một cánh đồng nhỏ. Phía cửa hang, đầm lầy cỏ dại tre gai ken kín. Phía bắc hang được che chắn bởi đồi Dẻ, đồi 20. Phía nam là núi Ngựa, núi Cục và vành đai núi đất phía đông thuộc xã Yên Thọ vươn cao vững chắc.

Chiến tranh trôi qua, hang Đồng Mười đổi thành hang Lò Cao vì bên trong có lò luyện gang bỏ phế. Năm 2000, hang Lò Cao được công nhận là di tích lịch sử kháng chiến cấp tỉnh.

Cũng gần 50 năm, từ một phân xưởng trong kháng chiến, hang đã hoàn thành nhiệm vụ, rồi được công nhận di tích. Đó là chỗ dựa tinh thần để những người con thuộc các dân tộc Thái, Mường, Kinh lớn lên trên mảnh đất Như Thanh và nhất là sống ở gần hang có một câu chuyện nhỏ để kể về nơi đây.

Ông Nguyễn Văn Minh, 62 tuổi, thương binh hạng 2, đang sinh sống tại Long Hải (Bà Rịa-Vũng Tàu), kể rằng: “Cuối những năm 70, tôi có đi xe trâu vài chuyến vào núi đá Đồng Hang lấy củi. Dọc đường vào núi, có rất nhiều bãi chứa vỏ đạn thối lẫn sắt vụn. Có nhiều tấm biển cảnh báo nguy hiểm không được lại gần”. Ký ức vỏ đạn sâu sắc tới nỗi, ông trầm ngâm: “Những năm tháng ở chiến trường Tây Nam, rồi thương tật, rồi nằm viện điều trị kéo dài, nhưng tôi không nhớ về chiến tranh mà tôi nhớ về vùng núi quê mình, chập chờn trong trí nhớ là bãi thải bom đạn mà rùng mình, ớn lạnh”.

Năm tháng đi qua, hiện trường bãi thải vỏ đạn, sắt vụn đó đã được dọn đi và không có một vụ nổ nào. Chuyện dọn dẹp này thuộc về những đại lý thu mua đồng nát! Cuộc sống lại về thường nhật, người dân san bằng mặt đất tạo ra những thửa ruộng cấy lúa sát chân núi đá. Năm qua, mùa tới cũng chẳng ai để ý trong hang có gì. Lại do đầm lầy ngăn cách nên không ai bước vào. Hang lạnh lẽo, nhiều người còn tung tin trong đó có nhiều xương cốt.

Trước đây, nhiều người cao tuổi kể rằng, trong thời gian sản xuất gang, có một bờ đê đất đắp qua đầm lầy, sau đó, bờ đất bị mưa lũ sạt lở mất dạng. Cỏ trong đầm lầy nhiều năm, kết rễ tạo mảng nổi trên mặt nước, người nhẹ cân có thể đi trên đó dễ dàng. Những bụi tre gai hoang dại cũng nhân lên dày đặc phất lên miền hoang cửa hang, vách núi.

Học sinh các trường trong địa bàn tham quan hang.

Học sinh các trường trong địa bàn tham quan hang.

Khám phá

Năm 1989, chúng tôi đang học lớp 11 và được phân công vào bản Mường nhỏ gần hang Lò Cao vác tre luồng về rào trường. Vốn hang đã nhiều câu chuyện thêu dệt, nên mấy đứa chúng tôi đều tò mò.

“Đá thạch anh óng ánh trong hang vô cùng hấp dẫn”, bạn Lương Thị Xuân, nhà gần hang nói vậy và cầm đầu nhóm khám phá. “Những ngách hang nhỏ chứa đầy đá vụn, cần phải chui thật sâu vào, may ra mới tìm được một vài viên”, Xuân nhấn mạnh về một hành trình.

Chúng tôi có bảy đứa trai, gái quyết tâm băng qua cái đầm lầy có nhiều đỉa, cẩn trọng nhắc nhau, chân đứa đi sau đặt vào đúng chỗ chân đứa đi trước nhỡ bom mìn còn sót lại hay rắn độc tấn công. Cửa hang đập vào mắt bằng vòm rộng, bên trong hơi tối. Sức hút phía bên trong nên không ai muốn ở lại bên ngoài. Một bức tường gạch của Lò Cao đập vào mắt và dưới chân lò nhiều đường ống dẫn ngược lên núi.

“Có ma không”, một bạn trong nhóm nói to, tiếng vọng dội lại và âm thanh “vù vù”. Vài người ngã ngồi, vài người mặt cắt không ra giọt máu. Xuân vẫn bình tĩnh ngó nghiêng, rồi phá lên cười. Dơi! Những con dơi trong hang có động, bay ra.

Phân dơi phủ đáy hang một lớp mỏng, mùi chua. Vài bạn ríu vào nhau, hai hàm răng lập cập, đầu gối đánh võng vì một nỗi sợ mơ hồ nhưng vẫn bước theo. Tìm được một ngách hang rộng, chúng tôi chui vào, bò theo cách của đàn kiến. Trong im lặng bất chợt lại nghe tiếng “rào” khô khốc. Tiếng động này, do bạn bên trong đã dịch chuyển một hòn đá hòng tìm kiếm viên đá lấp lánh. Tiếng “rào” đó do đá dăm bị mất thế đứng, chảy xuống.

“Bóng tối bao trùm, sự sống mong manh” - Xuân nói, có người cười, có người quát im đi. Cũng kiếm được vài viên đá lấp lánh đấy nhưng ra ánh sáng nó cũng chỉ li ti le lói, không đáng để mất công lần nữa. Cho đến bây giờ, nhớ lại, chúng tôi chỉ đoán thứ lấp lánh đó là nhũ đá trong hang. Khi thi công lò gang, người ta đã dọn dẹp trần hang và vỉa đá nhấp nhô, tạo mặt bằng tăng diện tích để lắp đặt máy móc. Phần đá bị dọn dẹp nằm rải rác trong các ngách nhỏ, thi thoảng bị bắt gặp, như chúng tôi đã tìm thấy vài viên lấp lánh.

Năm 2000, một con đường nhỏ bắc qua đầm lầy, mọi chuyện trong hang đều được làm sáng tỏ. Hang cũng ít đi mầu sắc huyền hoặc. Và cũng từ những năm đó, nhiều thế hệ học sinh vào hang vui chơi. Mùa hè, bị cúp điện, người dân lại rủ nhau vào hang ngủ trưa mát rượi.

Lò Cao trong quá khứ

Lật tìm lại những ghi chép, hang Lò Cao gắn liền với tên tuổi của các nhà khoa học hàng đầu: GS - Viện sĩ Trần Đại Nghĩa, kỹ sư Võ Quý Huân, cán bộ kỹ thuật Trịnh Tam Tỉnh, kỹ sư Trịnh Văn Yên, Đặng Trần Cảnh, Tống Nguyên Lễ, Lương Ngọc Khuê, Nguyễn Văn Thân… cùng với lớp người thợ đã hăng say lao động đặt nền móng công nghiệp quốc phòng đầu tiên của nước nhà. Giai đoạn 1951-1954, hang Lò Cao được GS Trần Đại Nghĩa cùng nhiều nhà khoa học thiết lập phân xưởng đúc gang phục vụ kháng chiến.

Ông Nguyễn Văn Xuân, quê Quảng Trị, là một trong nhiều người tham gia vận hành lò gang, từng kể lại với chúng tôi rằng, đây là cơ sở thí nghiệm luyện gang được Cục Quân giới Việt Bắc và Sở Kỹ nghệ Trung Bộ chuyển từ Nghệ An ra Thanh Hóa cuối năm 1949.

Câu chuyện được kể vắn tắt như sau. Tháng 6/1950 bắt đầu xây dựng trong hẻm núi vì nghĩ cánh rừng sẽ ngụy trang kín đáo, lò cao NX1 nhỏ để thí nghiệm và lò lớn NX2 để sản xuất.

Ngày 12/9/1951 lò nhỏ sản xuất mẻ gang đầu tiên được 250 kg gang xám loại tốt. Ngày 7/11/1951, lò lớn bắt đầu sản xuất, sau 2 ngày đêm hoạt động, khói tỏa ra dày đặc, rất dễ bị địch phát hiện, các cán bộ công nhân đã làm đường dẫn khói dài 500 m, nằm sâu dưới đất, có nhiều lỗ thông để khói tỏa ra như màn sương nhẹ.

Trong giai đoạn 1952-1953, khi công việc sản xuất đang trôi chảy, địch phát hiện và cho máy bay ngày đêm oanh tạc. Trước tình hình ấy được sự đồng ý của cấp trên, Ban lãnh đạo Lò Cao do đồng chí Trần Đại Nghĩa - lúc bấy giờ là Cục trưởng Cục Quân giới đã quyết định chuyển toàn bộ xưởng sản xuất vào trong hang Đồng Mười cách chỗ cũ chừng một km, lò cao NX3 ra đời từ đấy, để rồi sau này Lò Cao trở thành luôn tên của hang.

Từ tháng 1/1953 các cán bộ, kỹ sư vừa sản xuất, vừa tổ chức đánh mìn dọn hang, dọn đường. Lò cao NX3 ra đời như vậy. Việc sản xuất gang trong hang Lò Cao kết thúc năm 1954. Cùng năm đó, chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã đánh dấu mốc quan trọng kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp của cả dân tộc.

Đến hang Lò Cao, đi từ cổng chính sườn phía tây vào trong lòng hang mát lạnh, ngược theo bậc đá lên cao, thoát ra sườn phía đông. Ở đây, sẽ được nhìn toàn cảnh một vùng nông thôn phía dưới, thấm thía sự hy sinh của cha anh trong cuộc kháng chiến trường kỳ để kiến tạo nên ngày hôm nay.